thơ văn
thù hận
hoànglonghải/tuệchương
Trên tạp chí
“Hải Ngoại Nhân Văn” (*) số 34 tháng Tư/2002,
ông Nguyễn Hữu Luyện có giới thiệu hai
bài thơ và một bài văn của ông Nguyễn
Bá Chung. Cũng theo lời Nguyễn Hữu Luyện
th́ Nguyễn Bá Chung là Giám Đốc Chương Tŕnh
Nghiên Cứu về người tỵ nạn Cọng
Sản của WJC/UMB.
Với một người chức
vụ như thế mà làm thơ văn như thế,
tôi thấy cần nói lên một vài ư kiến
để cho sáng thêm ư nghĩa của hai chữ
thơ văn.
Cứ như định
nghĩa của ông Phan Kế Bính th́ “Văn là
ǵ? Văn là vẻ
đẹp; Chương là ǵ? Chương là vẻ
sáng. Lời của người bóng bẩy sáng sủa,
tựa như có vẻ đẹp, vẻ sáng cho
nên gọi là văn chương”.
Qua những bài văn, thơ của
Nguyễn Bá Chung sau đây, nếu so với định
nghĩa của Phan Kế Bính, người ta thấy
ǵ?
Di tản ... (Nguyễn Bá Chung)
là mảnh vụn của sỏi đá
là giọt nước của ao tù
là tia nắng cuối cùng monh manh
cuối ḷng súng rỉ
là ngôn ngữ bất lực
của tháng ngày bất lực
là vết bầm cuối cùng
của cuộc nội thương (**)...
là vết rêu của sỏi
đá
là hơi sương trên ao tù
là tia nắng suốt đời monh manh
là viên đạn lép
không bao giờ bắn nữa
là ngôn ngữ khởi đầu
khi tiếng bom chấm dứt
là những ǵ đọng lại
sau cơn động đất
cuối mùa
(**) nửa đầu
bài thơ dựa theo lời một bài tựa tập
thơ
Trở Về (Nguyễn Bá Chung)
Tôi sẽ về làm người không manh áo
Giá áo túi cơm rồi cũng chẳng làm ǵ
Tôi sẽ về trên những bờ đê cằn
cỗi
Chết theo từng tiếng cú vọng chân
đi
Tôi sẽ về gối đầu trên mộ
bố
Lính Tây càn từ lúc tôi chưa
sinh
Không biết mặt tôi vẫn
ngỡ ngàng
h́nh ảnh ấy
Hàng thanh niên giật khuỷu nước sông
ch́m
Tôi sẽ về cúi đầu xin lỗi mẹ
Bỏ một đi nuôi giọt
máu thiếu cha
Bao giá lạnh chiều than người không
nói
Bao ước mơ nay đă sóng qua phà
Tôi sẽ về làm người tù tự trói
Mang trên ḿnh những biểu ngữ đầy
tên
Để được sống một lần
trong tự hối
Với những người không
biết vẫn thân quen
Tôi sẽ về với hầm chông hố
đạn
Hai mươi năm bằm nát
mọi h́nh hài
Để sống lại một thời tôi muốn
sống
Mà theo ḍng con nước đă chia hai
Đây là một đoạn trích trong bài “Vietnam
War and
Vietnam
” của Nguyễn Bá Chung
“Tôi tin rằng Mỹ có những mục
đích cao cả ở VN - tự do và dân chủ. Nhưng
v́ Mỹ đă liên minh với một nhóm Việt
Nam là những người đă mang nặng tính chất
thực dân, và hầu hết họ đă phản
bội lịch sử Việt Nam - với hai ngàn năm
lịch sử mà vẫn chưa thành tựu
được. Cũng như vậy, Hồ Chí Minh
có tất cả đầy đủ sự nghiệp
chính nghĩa - độc lập, thống nhất và
công lư xă hội - nhưng v́ không có một cường
quốc phương tây nào ủng hộ việc bải
bỏ chế độ thuộc địa, ông Hồ
và các nhà cách mạng đă phải tự liên kết
với chủ nghĩa Cọng Sản, một học
thuyết có những nét căn bản - chiến
tranh giai cấp, chuyên chính vô sản, và một xă
hội không tưởng - đi ngược lại
chiều hướng văn hóa Việt Nam, một nền
văn hóa tồn tại hàng ngàn năm.
Ghi chú: Tôi ghi lại thật đúng như
trong “Hải Ngoại Nhân Văn”.
Tôi
không ghi lại bản tiếng Anh. Theo chú thích, bản
tiếng Anh do Nguyễn Bá Chung và Bruce Weigl dịch
ra tiếng Anh. Như thế, có nghĩa là Nguyễn
Bá Chung viết bằng tiếng Việt trước
rồi dịch ra Anh Văn sau. Do đó, tôi viết
bài nầy bằng tiếng Việt nên tôi trích dẫn
bản tiếng Việt, hợp lư hơn.
Trước hết, tôi thấy Nguyễn Bá
Chung không biết làm thơ, dù là thơ mới, không
ràng buộc niêm luật như thơ Đường.
Bị t́nh cảm thù ghét đẩy đưa, thù
ghét những người di tản (như trong đầu
bài thơ) ông dùng chữ “tia nắng mong manh” hai
lần trong mấy câu thơ, thường gọi là
lặp ư, hoặc vài chữ có nghĩa gần giống
như vậy như hơi sương (hơi
sương th́ mong manh) hoặc đọng lai
(sương đọng lại).
là tia nắng cuối cùng monh manh
là tia nắng suốt đi monh manh
là hơi sương trên ao tù
là những ǵ đọng lại
Dùng nhiều chữ của, thừa,
vô ích, như: của sỏi đá, của ao tù...
Làm văn xuôi nhiều khi người ta viết
tràng giang đại hải, nên dễ lặp ư mà
không biết. Làm thơ không phải thế, nhất
là thơ Đường, thất thôn bát cú hay tứ
tuyệt, có bài chỉ có 28 chữ mà thành một
bài thơ, nên cách dùng chữ, chọn ư hết sức
cẩn trọng, gọt dũa, không được
thừa lời, không được lặp ư.
Ngày xưa, đời Xuân Thu bên Trung Hoa, có
ông Lă Bất Vi viết cuốn sách “Lă Thị
Xuân Thu”, đem treo ở cửa thành, bố cáo rằng
hễ ai sửa được một chữ trong sách
ông th́ ông thưởng một lạng vàng. Vậy
mà chẳng ai được lạng nào hết. Thế
mới biết viết lách cần phải cẩn
thận như thế nào.
Muốn làm thơ, người ta phải tập.
Trước là phải tập làm thơ Đường,
thật g̣ bó. Làm được thơ Đường
rồi, qua làm thơ mới hay thơ tự do, có kỹ
thuật hơn, dễ thành công hơn. Người
làm thơ bây giờ, ưa th́ viết đại
xuống, đọc đi đọc lại nghe cho
xuôi xuôi, thế là xong, là thành thi sĩ, thơ thẩn
chẳng có kỹ thuật ǵ cả. Trong hai hạng
đó, tôi không rơ “thi sĩ” Nguyễn Bá Chung thuộc
hạng nào!?
Dù vậy, nếu so với bài thứ hai: “Trở
Về”, th́ bài sau nghe “đỡ” hơn.
Nghĩa là đỡ hơn bài trước, c̣n hay
dở như thế nào, xin nói sau.
Tại sao ông cứ nói đi nói lại một
ư như vừa tŕnh bày trên?
Tại v́ ông ghét và thù hận những người
di tản quá.
Sự thù hận làm cho người ta nh́n vấn
đề phiến diện đi, nh́n cái ǵ cũng
nh́n theo lăng kính của ḿnh, như sách báo trước
1975 thường nói là đeo “những cặp kính
màu”. Do đó, ông mai mỉa, bêu rếu họ bằng
nhiều chữ, lấy nhiều h́nh ảnh xấu
mà dán lên mặt họ. Suốt cả bài thơ, từ
đầu tới cuối là 17 câu, ông toàn
đưa ra những ư, những lời xấu về
họ. Nào là “mảnh vụn sỏi đá”, “giọt
nước ao tù”, “ḷng súng rỉ”, “viên đạn
lép”, v.v...
Khi người ta gọi ai là đeo “những
cặp kính màu” th́ người ấy không
được đánh giá là người có “trí”
bao giờ.
Tôi nhớ hồi tôi c̣n nhỏ, mỗi lần
đi học ngang chợ, thấy mấy bà bán hàng
chửi lộn nhau là tôi đứng lại nghe; vừa
nghe vừa cười... Họ chửi nhau hay lắm.
Bởi tức giận, ghét bỏ nhau quá mức
nên họ lôi hết ông bà ông vải đối thủ
ra mà chửi. Thậm chí bao nhiêu điều dơ
dáy, xấu xa họ đem ra mà đổ lên đầu
kẻ thù cho hả cơn tức. Có lần tôi bị
rầy v́ đứng nghe chửi nhau như thế.
Người ngoài đánh giá họ là giới b́nh
dân, ít học, thiếu suy nghĩ, “Nhân bất học
bất tri lư” nên mới chửi nhau thậm tệ
như thế. Thật ra, tôi cũng chẳng khen chê
ǵ họ hết, thấy lạ th́ coi mà thôi.
Nay xem lại trong bài thơ của Nguyễn Bá
Chung, tôi thấy ông chửi những người di
tản cũng thậm tệ lắm. Nói ra thêm dài
ḍng và hao giấy, quí vị nào muốn biết
th́ xin đọc lại 17 câu thơ trên, Nguyễn
Bá Chung ví người di tản với bao nhiêu
điều xấu xa.
Ở Việt
Nam
, tôi thấy cán bộ Cọng Sản ngoài Bắc
vào, họ đố kỵ nhau dữ lắm. Cán bộ
nầy sắm được cái TV, cái radio (cái
đài), cái đổng (đồng hồ), cái
đa (xe Honda) th́ cán bộ kia cùng rán kiếm cho
có, thậm chí phải đẹp hơn, mới
hơn, tốt hơn, bền hơn mới chịu.
Từ đó, họ làm đủ cách để có
của, có khi dè bỉu nhau, moi móc nhau, tố cáo
nhau, hay làm thơ làm vè bôi bác nhau vậy. Do đó,
ở
Saigon
bỗng có câu đồng dao:
Cái đài, cái đổng, cái đa
Có ba cái ấy đời ta
huy hoàng
Ấy là theo đảng vinh quang
Ấy là theo gót con đàng
bác đi.
Người Việt ở Mỹ đối xử
với nhau, trong vài trường hợp, cũng
tương tự như vậy. Năm 1993, tôi tham
dự một buổi họp của ông Phạm Thư
Đăng ở Boston, mục đích là để kêu
gọi người Việt t́m cách giúp đỡ
người tỵ nạn Việt Nam đang ở các
trại tỵ nạn có nguy cơ bị đuổi
về nước. Nhiều người lên diễn
đàn phát biểu, ai cũng kêu gọi giúp đỡ
người tỵ nạn, lời lẽ na ná như
nhau, bỗng có một ông, nghe nói là làm quản lư
cho một khách sạn lớn ở Boston, qua Mỹ
hồi năm 1975, nay đă giàu có rồi, sang trọng
rồi, đứng ngay tại chỗ, nói một
câu: “Cho họ qua đây làm ǵ? Để
họ về là phải, thứ xấu xa đó...
” Rồi ông ta bỏ
đi một nước, có phải v́ sợ phản
ứng của những người khác?
Người Việt ở Mỹ kỳ thị
nhau là v́ mặc cảm: tự tôn có, tự ti có.
Người qua lâu, giàu có th́ tự tôn v́ sự
giàu, nhưng lại tự ty v́ thuộc loại...
dọt lẹ, “tam thập lục kế” trước
thiên hạ, chưa từng có một ngày tù cải
tạo v́ phần đông là hạ sĩ quan, binh
sĩ, hoặc không dính dáng ǵ tới chế độ
cũ cả, thậm chí trước 1975 là đào
binh, trốn quân dịch, lính ma, lính kiểng, hay
sinh trưởng ở miền Bắc, v.v... Người
qua sau th́ có tâm lư ngược lại, v.v... C̣n có
những người qua Mỹ từ trước
1975 như du học, theo chồng về Mỹ, linh mục
các ḍng tu, tu sĩ Phật giáo, v.v... V́ bác ái, từ
bi, rất nhiều người tham gia các tổ chức
cứu giúp người di tản hồi 1975.
Tôi không biết Nguyễn Bá
Chung thuộc thành phần nào, có v́ ḷng nhân ái như
truyền thống của người Việt Nam,
(như ông có nói trong bài văn xuôi trích dẫn
ở trên, tự hào rằng văn hóa Việt Nam,
một nền văn hóa tồn tại hàng ngàn năm.)
“Thấy người
hoạn nạn th́ thương... ”
(Gia huấn ca - Nguyễn Trăi), mà cứu giúp ai
không hay ḷng thù hận làm cho ông nh́n họ là thứ
“vết rêu của sỏi đá”, “vết bầm
cuối cùng”, “giọt nước của ao tù”.
Tôi th́ nghĩ ngược lại, chính ḷng thù hận
biến tâm hồn con người ốnhư Nguyễn
Bá Chung chẳng hạn- thành “sỏi đá”,
thành “rong rêu”, thành “giọt nước ao tù”.
Không biết Nguyễn Bá Chung hiểu câu nầy
như thế nào:
Ngậm máu phun người
Chẳng
may gió độc mà rơi nhằm ḿnh
Tâm hồn ông ta thế nào, và ông chửi bới
người di tản như thế nào? Có phải
ông thuộc hạng tôi nói ở trên?
Qua sự kiện Bin Laden và bọn Taliban, nh́n
lại lịch sử, nói chung, người ta thấy
rằng việc đối xử với người
khác bằng ghét bỏ và thù hận sẽ không
đem lại ǵ cả. Không có ǵ hết mà chỉ
làm cho xă hội thêm đau khổ mà thôi. V́ thù
ghét mà người ta trở nên độc ác. Độc
ác như vua Kiệt, vua Trụ, như Tần Thủy
Hoàng, như Neron đốt thành Rome, th́ nhân loại
được th́ không được ǵ mà mất
mát và đau khổ th́ nhiều lắm. Độc ác
như Hitler, Staline, Mao Trạch Đông th́ nhân dân Đức,
Liên xô, Trung Hoa được ǵ hay đói khổ
và tù đày quá nhiều. C̣n bây giờ, hủy diệt
WTC, làm cho hàng ngàn người chết th́ Bin Laden
được ǵ và người Hồi, người
dân Afghanistan được ǵ? Làm một người
dân thường, không có quyền hạn ǵ hết
mà thù ghét người khác th́ cái hại c̣n nhỏ.
Từ bậc thấp nhứt đó mà kể lên,
chức càng cao, thù càng nhiều th́ thiệt hại
cho người khác, cho dân tộc càng lớn. “Làm
chính trị mà sai th́ hại cho một nước,
làm văn hóa mà sai th́ hại muôn đời”
như Đức Khổng tử nói vậy.
Nói về văn hóa Việt Nam, như Nguyễn
Bá Chung khoe ở trên, (“văn hóa Việt Nam, một
nền văn hóa tồn tại hàng ngàn năm”.)
th́ người làm chính trị phải chủ trương
“Đức Trị”, lấy cái Đức, ḷng Nhân mà
đối xử với dân, không dùng bạo lực
như ở các chế độ độc tài, hạng
nhứt là độc tài Cọng Sản. Về văn
hóa, th́ không chủ trương, không dạy thù hận.
Trong cuốn sách bàn về truyện Kiều, Trần
Trọng Kim viết: “Cổ nhân có câu rằng “Văn
dĩ tải đạo” nghĩa là: Văn dùng
để chở đạo... Cái ḷng thương làm nảy ra cái ḷng từ bi, muốn
làm điều lành, điều phải, muốn cứu
người trong lúc hoạn nạn”.
Người du học đất khách quê người,
cái ǵ cũng lạ nên được người
địa phương, tuy khác màu da, khác chủng
tộc cũng giúp đỡ. Người di tản
là người đang cơn hoạn nạn, ra
đi là không c̣n có sự chọn lựa nào khác,
vậy mà người đồng hương đă
không giúp đỡ, lại chê bai, dè bỉu. Vậy
th́ lương tâm ở đâu hay lương tâm
già trước tuổi, răng cỏ rụng hết
nên không cắn rứt được chăng?
Câu “Văn dĩ tải đạo”,
ở Việt Nam, trước 1975, học tṛ lớp
Đệ Tứ (lớp 9 bây giờ) đă được
thầy giảng khi học truyện Kiều. Văn
để chuyên chở, truyền bá đạo
đức. Chê cái xấu, khen cái tốt, để
cho có vẻ đẹp, vẻ sáng th́ không thể
bị cái ghét, cái thù làm che mờ lương tri
được. Ấy là nói người làm văn
chân chính, c̣n lợi dụng văn chương
để chửi bới người khác như
Nguyễn Bá Chung th́ lại là chuyện khác.
Nếu nói về văn hóa Việt Nam, như
Nguyễn Bá Chung khoe ở trên, (“văn hóa Việt
Nam, một nền văn hóa tồn tại hàng ngàn
năm”.) th́ tôi nghĩ cũng nên bàn chút ít về
chữ “Khiêm” mà trong cách ông ta chê bai những người
di tản, cũng vắng bóng chữ “Khiêm” nầy.
Khiêm là kính, nhún nhường. Người Việt
kính trọng người lớn tuổi. Dù quan to
chức lớn cũng phải trọng người
lớn tuổi hơn ḿnh, v́ “Kính lăo đắc
thọ”. Trong số những người di tản,
cũng có người đáng tuổi em út Nguyễn
Bá Chung, có người đáng tuổi anh chị,
và không ít người đáng tuổi cha ông. Mạt
sát họ bằng những lời lẽ như trên,
nào là thứ “vết rêu của sỏi đá”,
“vết bầm cuối cùng”, “giọt nước
của ao tù”, v.v... như thế là mục hạ
vô nhân, là thiếu sự lễ phép của người
Việt Nam, là hợm ḿnh.
Những người có học và có tư cách
thường th́ biết khiêm cung, (“nhún ḿnh xuống
thấp mà kính cẩn”), khiêm nhượng (“nhún
nhường”), khiêm thuận (“cung kính, thuận
ḥa”), khiêm tốn (“nhún nhường”), khiêm từ
(“lời nói nhún nhưng”), khiêm xưng (“tự
ḿnh hạ ḿnh xuống khi nói chuyện với người
khác”). Về đạo đức, đây là
điều cha mẹ thường dạy con, làm gương
cho con. Những ai thiếu cha thiếu mẹ dạy
là điều thiệt tḥi rất lớn. Để
rơ hơn, tôi đưa ra một ví dụ: Nhà văn
Phạm Duy Tốn, dạy con bằng cách khi sinh người
con trai đầu đặt tên là Phạm Duy Khiêm;
người con kế là Phạm Duy Nhượng; nhạc
sĩ Phạm Duy tên là Phạm Duy Cẩn. Làm tới
vua như vua Tự Đức, xây cho ḿnh một cái lăng
th́ cũng chọn tên là Khiêm Lăng.
Người Cọng sản làm
cách mạng văn hóa, đă phá những cái Khiêm
như tôi nói ở trên. Họ có văn hóa riêng của
họ, gọi là “Văn hóa Mácxít-Lêninít”. Cho
nên, ai không thuộc phe họ, th́ họ mạt sát
bằng một chữ thằng, như thằng Diệm,
thằng Thiệu, thằng Kỳ, thằng Lư Tống,
thằng ngụy (nói chung người thuộc chính
quyền quân đội miền Nam hay có dính líu
chút ít đến chính quyền miền Nam như
sinh viên, du học sinh - nhứt là du học ở Mỹ
để sau nầy về làm tay sai cho Mỹ, làm
CIA -, những người cải tạo, ai có du học
ở Mỹ về th́ cải tạo lâu hơn v́ Cọng
Sản cho là được CIA huấn luyện, làm
tay sai cho Mỹ; cũng bị gọi tuốt là thằng
ngụy. Công dân Mỹ họ gọi chung là thằng
Mỹ; c̣n như ai ở trong chính quyền Mỹ
th́ họ gọi là “thằng Nich-xơn” (hay “thằng
tổng thống Nich-xơn”), “thằng
Ken-nơ-đi”, “thằng Kít-xin-gơ”, v.v... Ai
từng ở lại miền Nam, đọc báo Cọng
Sản th́ không ít lần thấy như vậy. Tên
của mấy người Mỹ nầy, tôi cũng
viết đúng theo y như họ phiên âm.
Cọng Sản không cần chữ khiêm, nên gọi
ai không theo phe họ bằng thằng, khinh bỉ, mạt
sát. Họ dùng chữ thằng, khác với Nguyễn
Bá Chung gọi là “vết rêu của sỏi đá”,
“vết bầm cuối cùng”, “giọt nước
của ao tù”, v.v... Khác là khác ở cách gọi, về
bản chất (thiếu chữ Khiêm) th́ cũng giống
nhau, người xưa gọi là “Ngưu tầm
ngưu, mă tầm mă”.
Những người di tản là ai?
Là người không thể ở với Cọng
Sản được mà phải ra đi.
Về hành pháp th́ họ là tổng
thống, thủ tướng, bộ trưởng,
v.v... Về lập pháp th́ có chủ tịch, phó chủ
tịch, nghị sĩ, dân biểu, v.v... Về tư
pháp th́ có chủ tịch, phó chủ tịch Tối
Cao Pháp Viện, chánh án, dự thẩm, v.v... về
quân đội th́ có tướng tá, v.v... về
đảng phái th́ cũng có chủ tịch, đảng
viên, v.v... về tôn giáo th́ có thượng tọa,
đại đức, tăng ni, giám mục, linh mục,
chức sắc, giáo phẩm, v.v... về giáo dục
th́ có viện trưởng phó viện trưởng
các viện đại học, các giáo sư, sinh viên,
v.v... từ cấp cao nhất đến cấp thấp
nhất, những người trong chính quyền,
ngoài chính quyền, dân sự, buôn bán, tài xế,
nông dân, làm thuê, v.v... Nh́n chung, những người
di tản là những người thuộc xă hội
miền Nam thu nhỏ lại, là bộ mặt miền
Nam thu nhỏ lại. Họ, những người di
tản, chạy nạn, vượt viên, v.v... Nói
chung, dưới mắt Nguyễn Bá Chung họ là
thứ “vết rêu của sỏi đá”, “vết
bầm cuối cùng”, “giọt nước của
ao tu”ợ ,v.v...
Nguyễn Bá Chung nh́n họ là
những người có quá tŕnh theo Tây, theo Mỹ,
những người như ông viết trong bài văn
xuôi nói trên là một nhóm Việt Nam, là những
người đă “mang nặng tính chất thực
dân”, và hầu hết họ đă “phản bội
lịch sử” Việt Nam - với “hai ngàn năm
lịch sử mà vẫn chưa thành tựu
được”.
Sao lại một nhóm? Nhóm
đó là ai? Những người được Mỹ
dựng lên, bắt tay với Mỹ, hay toàn bộ
những ai ăn lương Mỹ, mặc áo Mỹ,
cầm súng Mỹ đánh nhau với Cọng sản.
Như vậy th́ một nhóm đó gồm một
triệu binh sĩ Việt Nam Cọng ḥa, cán bộ,
công chức, thậm chí cả người chạy
taxi, buôn thúng bán mẹt, đọc kinh gỏ mơ
trong chùa, trong nhà thờ, thậm chí cả những
bác sĩ, dược sĩ chỉ lo chăm sóc người
đau, kẻ ốm, v.v...
Dưới con mắt của
những người gọi là làm cách mạng
ở Hà Nội, ai ở miền Nam cũng đều
có tội hết, thậm chí cả những người
làm địch vận cho họ như Phạm Xuân
Ẩn, Vũ Ngọc Nhạ, Huỳnh văn Trọng,
v.v... Dù là cán bộ Cọng Sản nhưng học
hành ở nhà trường tư bản, sinh hoạt
trong xă hội tư bản, đều thâm nhiễm
thói hư tật xấu tư bản, tư tưởng
bóc lột tư bản, nên những người nói
trên, sau 1975, dài ngắn khác nhau, ai cũng phải
đi học tập cải tạo. Chỉ cần
biết ngoại ngữ, tiếng Pháp, tiếng Anh,
(ngoại trừ tiếng Tàu, tiếng Nga), đều
là xấu cả. Xin trích một đoạn sau
đây trong cuốn “Brother Enemy” của Nayan Chanda
“Một trong những điều đầu
tiên được thấy là sự áp bức, tinh
thần bài ngoại trong đám Khmer Đỏ t́nh cờ
xảy ra trong buổi tiếp tân ngày quốc khánh
Cuba tại nhà quốc khách. Theo
nghi lễ, Sihanouk bắt đầu đọc lời
chúc mừng bằng tiếng Khmer rồi ngưng lại
chờ một người nào đó thông dịch.
Trong số những người lănh đạo Khmer
Đỏ, có người đă từng du học
ở Pháp nhưng chẳng ai dịch cả. Ngay cả
Khieu Samphan, đậu bằng tiến sĩ ở
Sorbonne, dù ông ta bị Suong Sikoeun thúc đẩy.
Suong cũng là người xuất thân trường
Pháp, từng làm giám đốc Khmer Thông Tấn
Xă. Sau khi chờ một lúc chẳng thấy ai,
Sihanouk tự dịch ra tiếng Pháp lời chúc mừng
của ông. Trong chế độ Pol Pot, kiến thức
ngoại ngữ được xem là dấu hiệu
của tinh thần nô lệ hoặc khoe khoang”.
Không riêng ǵ chế độ Pol Pot đâu.
Theo tôi biết, các nước Á châu sau bức màn
tre, đều thế cả.
Thời gian đầu khi tôi
c̣n ở trong trại cải tạo, trong một buổi
lên lớp, cán bộ Cọng Sản giải thích:
“Ai cũng có tội với cách mạng. Một
bác sĩ, chăm sóc cho tên lính ngụy đau
ốm, bị thương mau lành bệnh, để
làm ǵ? Để nó mau mau trở lại cầm súng
chiến đấu cho Mỹ-Ngụy. Thế là
không có tội à? Một linh mục, một thầy
chùa, cầu an, cầu phước cho tên lính ngụy
để nó an lành, mạnh khỏe, để nó hăng
hái đi đánh phá cách mạng; thế là không
có tội à? Một bà bán gánh bên đường,
bán cho tên lính ngụy tô cháo, để nó ăn vào
cho khỏe, một người bán càphê, giải
khát bên đường, bán cho tên lính ngụy cốc
càphê, ly nước ngọt, để nó uống
cho đă khát, thoải mái, để làm ǵ? Để
cầm súng đi đánh phá cách mạng. Vậy
th́ người bán chè, bán cháo, bán nước giải
khát có tội với cách mạng không? Có tội
quá đi chứ!!!
Xem thế, ở miền Nam, ai
ai cũng có tội với Cộng Sản hết, cứ
ǵ phải làm ông nầy ông kia, giàu có, sang trọng
mới có tội. Cách mạng Cọng Sản là
cách mạng “triệt để” th́ phải nh́n
vấn đề một cách rốt ráo như thế
mới đúng. Vậy nên khi Cọng Sản chiếm
miền Nam rồi, có thành phần nào ở
được với Cọng Sản mà không bỏ
nước ra đi, ngoại trừ thành phần cột
đèn là không đi như “quái kiệt” Trần
Văn Trạch nói mà thôi. Vậy th́ tất cả
họ, dù đi được hay c̣n kẹt lại
mà không đi được th́ đều như
nhau cả, đều là thứ “vết rêu của
sỏi đá”, “vết bầm cuối cùng”, “giọt
nước của ao tu”ợ, v.v...
Cũng cách suy luận như
thế, chỉ có ai ở Mỹ mà thân nhân của
họ trước 1975 ở ngoài vĩ tuyến 17,
mới không phải là thứ “vết rêu của
sỏi đá”, “vết bầm cuối cùng”, “giọt
nước của ao tù”, v.v... Tôi không rơ thân
nhân Nguyễn Bá Chung, trước thời gian di tản
đó, ở trong hay ngoài vĩ tuyến 17.
Về số phận người
miền Nam nói riêng hay tất cả những ai
không đi theo Cọng Sản, hay đă đi theo rồi
bỏ kháng chiến mà về th́ tôi xin trích một
đoạn trong “Gọng Ḱm Lịch Sử” của
ông Bùi Diễm:
“Nh́n vào hoàn cảnh người quốc gia
lúc đó, hay sau nầy, th́ đây là cả một
thế kẹt. Đúng lúc
phải tranh đấu chống ngoại xâm để
giành độc lập, họ lại bị đẩy
vào đường hợp tác với ngoại quốc:
và đó là điều không dễ ǵ giảng giải
cho quần chúng. Cũng may là lịch sử những
năm về sau không đến nỗi quá khắt
khe với họ. Ngày nay, người dân đă thấy
rơ là sau những tàn phá của hai trận chiến
tranh và dưới một chế độ tự
cho là “ưu việt” và “đỉnh cao của
trí tuệ loài người”, lối dẫn đến
“thiên đường Cọng Sản” chỉ
đưa đất nước tới cảnh nghèo
đói, lạc hậu. Nhưng vào hồi đó, với
người Pháp (và sau nầy người Mỹ)
ở bên cạnh, những người quốc gia
Việt Nam, mặc dầu có chính nghĩa, lúc nào cũng
bị vướng mắc vào một thứ mặc
cảm, một t́nh trạng mà những người
Cọng sản đă khôn khéo lợi dụng để
tuyên truyền, chiếm giữ lấy “độc
quyền yêu nước” trước mắt
người dân. Thế kẹt đó quả là một
thảm trạng khó có lối thoát cho những người
quốc gia trong suốt mấy chục năm chiến
tranh”.
(GKLS, trang 113, Bùi
Diễm)
Giải thích như Bùi Diễm là rơ và có
t́nh, có lư. Hiểu hay không là do tŕnh độ nhận
thức mỗi người, có đeo lăng kính
hay không, có đeo dàm ngựa hay không mà thôi.
Trong đoạn trên, ông Bùi Diễm nói, những
người quốc gia Việt Nam, mặc dầu có
chính nghĩa, chính người Cọng Sản
cũng phải xác nhận, nhưng họ nói trại
đi là có lư tưởng.
Để vấn đề nầy
được rơ thêm, tôi trích sau đây nhận
định của ông Bùi Tín, nguyên đại tá
quân đội Cọng Sản Bắc Việt, phó tổng
biên tập báo đảng Nhân Dân. Ông Bùi Tín là một
trong những người đầu tiên vào “giải
phóng Saigon” ngày 30 tháng Tư/1975. Sau ngày giải
phóng đó, tiếp xúc với người miền
Nam, t́nh h́nh miền Nam, cựu đại tá Cọng
Sản Bùi Tín đă tỉnh táo hơn. Tỉnh táo
(trước khi tỉnh là c̣n mê) là chữ ông Bùi
Tín dùng trong đoạn trích sau đây:
“Từ những cách yêu nước khác
nhau:
Trong các giáo tŕnh lịch sử được
dạy ở các trường hiện nay, nhiều sự
kiện, nhân vật... cũng bị xuyên tạc.
Các giáo tŕnh ấy cho rằng Việt Nam Quốc
Dân Đảng sau cuộc khi nghĩa Yên Bái bị thất
bại, đă tan ră hoàn toàn. Các tổ chức Việt
Nam Quốc Dân Đảng sau đó rồi Đại Việt
Quốc Dân Đảng, Đại Việt Duy Dân cũng
như Cách Mạng Đồng Minh Hội... đều
bị coi là những tổ chức phản động,
những tổ chức tay sai của Quốc Dân Đảng
Trung Quốc, tay sai của thực dân Pháp hay của
đế quốc Mỹ; nói tóm lại, những tổ
chức ấy đều là những tổ chức
“Việt gian”, do CIA Mỹ huấn luyện, và
đào tạo... Rồi một loạt nhân vật
chính trị, văn hóa khác như Vơ Hồng Khanh,
Nguyễn Tường Tam, Khái Hưng, Hoàng Đạo...
cũng bị nhận định là phản động,
bán nước, Việt gian, tay sai thực dân và
đế quốc... ”
... ...
... ...
...
Việc chụp mũ những người không
có cùng chính kiến với đảng Cọng Sản
là Việt gian có thể là một kiểu cách học
theo đảng Cọng Sản Trung Quốc hồi nội
chiến Quốc Cọng. Đảng
Cọng Sản Trung Quốc coi những kẻ hợp
tác với phát xít Nhật là Hán gian, coi chính phủ
Uông Tinh Vệ là Hán gian, tay sai Nhật. Về sau chữ
Hán gian được dùng rộng răi, cứ ai
không đồng t́nh và phê phán đường lối
của đảng Cọng Sản Trung Quốc th́
đều là Hán gian cả... Từ hai chữ Hán
gian mà sinh ra hai chữ Việt gian. Đă là Việt
gian th́ đáng tội chết, đáng bị xử
tử”.
... ... ...
... ...
“Tất cả những điều trên là hậu
quả của một thời kỳ lịch sử.
Đă đến lúc tỉnh táo nh́n lại và đánh
giá một cách điềm tĩnh, khách quan. Có thể
nói, ở các bên, chỉ có một số ít người
đi làm chính trị để nhằm kiếm chác
tiền tài và danh vọng. Phần lớn đi làm
chính trị là nhằm giành lại độc lập
cho đất nước, tiến bộ cho xă hội.
Họ chịu đựng những hy sinh, tổn thất
trong đấu tranh, có khi bị bắt bớ tù
đày. Họ nhắm vào những giá trị mà họ
tin tưởng, theo đường lối và biện
pháp mà họ cho là đứng đắn. Họ lại
phải tính đến những thế lực quốc
tế, đến cuộc đấu tranh giữa những
thế lực quốc tế ấy ở trong khu vực
và trên thế giới. Và họ t́m chỗ dựa,
t́m sự giúp đỡ và ủng hộ của
bên nầy hay của bên kia, trong cuộc đấu
tranh của tổ chức chính trị mà họ dựng
lên hay tham gia”.
(Mặt thật
- Thành Tín - trang 117. 118)
Khoảng tháng 5/1979, sau khi Trung Cọng đánh
6 tỉnh dọc biên giới, trung tá Cọng Sản
Trịnh Văn Thích, trại trưởng trại Cải
Tạo Xuân Lộc Z-30A, đi Hà Nội về, gọi
tất cả những người cải tạo lên
hội trường giải thích về quan hệ
giữa hai đảng Cọng Sản Trung Hoa và Việt
Nam, y nói: “Theo Trung Ương (đảng CSVN) cần
tăng cưng học tập ngụy quân, ngụy
quyền, làm sao họ thấy rơ đường lối
chính sách của đảng và nhà nước v́
trong t́nh h́nh bọn xâm lược Trung Quốc
đang đánh phá, Trung Ương nhận định
rằng, họ (cải tạo viên) đang bị
giao động, dễ có tư duy lệnh lạc, lập
trường quan điểm về cách mạng
chông chênh v́ trước đây, họ là những
ngưi “có lư tưởng tự do theo quan điểm
tư bản chủ nghĩa. (Hội trường vỗ
tay).
V́ có lư tưởng nên người ta mới
hăng hái, chịu hy sinh cho lư tưởng, c̣n như
đánh giặc thuê (Cọng Sản tuyên truyền
quân đội Miền Nam là đánh giặc thuê
cho Mỹ), th́ làm ǵ có lư tưởng, có tinh thần,
dại ǵ hy sinh mạng sống, ai ai cũng lo thủ
thân ḿnh là trước như, lo “du học”, -với
một số người cũng là cách trốn
quân dịch, trốn nhiệm vụ đối với
đất nước-. Trong cuộc chiến tranh chống
Cọng Sản Bắc Việt xâm lược,
người Miền Nam v́ có lư tưởng nên mới
có Phạm Phú Quốc, Trần Thế Vinh, Nguyễn
Văn Đương, Nguyễn Đ́nh Bảo, Hoàng Ngọc
Hùng (Hùng Móm), Phan Nhật Nam, Nguyễn Lô, v.v...
Quân Đội Việt Nam Cọng Ḥa, không thiếu những
kẻ anh hùng, chiến đấu và hy sinh cho lư tưởng
của họ.
Người Miền Nam, như
Nguyễn Đạt Thịnh nhận xét “những con
người vừa chấp nhận gian nguy chiến
tranh, cang cường chiến đấu trong bất
cứ hoàn cảnh nào, bằng bất cứ vơ khí
nào họ có trên tay, vừa sẵn sàng chấp nhận
nhục nhằn nhược tiểu, tiếp tục
cuộc chiến bằng một cuộc bỏ phiếu
khổng lồ và minh bạch bằng chân. Họ uy phong bất khuất và dứt khoát khẳng
định lập trưng yêu chuộng tự do,
đập thẳng vào mặt cả bọn Cọng
Sản xâm lăng, lẫn bọn siêu cưng
ươn hèn”.
“Chính họ mới là những ngưi xứng
đáng hưởng, được sống trong không
khí tự do và b́nh đẳng trong xă hội Mỹ,
nếu như có điều kiện nào đó mà họ
đă di tản sang Hoa Kỳ”.
Trong cuốn Tuổi Trẻ Các Mác, Cao Xuân Hạo
dịch, tôi thấy có mấy câu thơ của Karl
Marx khá hay, xin trích lại đây:
Chỉ có ai bằng chiến đấu hiên
ngang
Giành cuộc sống Tự do từng giờ từng
phút
Mới đáng hưởng Tự do và Cuộc
Đời Chân
thật
Nước Mỹ là quê hương của Tự
do th́ những người từng chiến đấu
cho quốc gia, cho Tự do như Bùi Diễm, Nguyễn
Đạt Thịnh nói ở trên và theo ư thơ của
Mác, “mới đáng hưởng Tự do và Cuộc
Đi Chân thật”. C̣n những ai, chưa từng một
giây, một phút chiến đấu hiên ngang cho Tự
do, trốn tránh trách nhiệm bằng con đường
... du học th́ có xứng đáng hay không?
Về bài văn của Nguyễn Bá Chung, tôi
thấy có 3 ư chính:
- Một là Mỹ có những mục đích
cao cả ở VN - tự do và dân chủ.
- Hai là những người đă “mang nặng
tính chất thực dân”, và hầu hết họ
đă “phản bội lịch sử” Việt Nam
- Ba là Hồ Chí Minh có tất cả đầy
đủ sự nghiệp “chính nghĩa - độc
lập, thống nhất và công lư xă hội”.
Trước khi bàn tới ba vấn đề
nêu trên, tôi xin nói về việc Nguyễn Bá Chung
không biết lịch sử Việt Nam.
Trần Trọng Kim, trong bài tựa cuốn “Việt
Nam Sử Lược” mà ông là tác giả, viết:
“Bộ Việt Nam Sử Lược nầy,
soạn giả chia ra làm 5 thời đại. Thời
đại thứ nhứt là Thượng cổ thời
đại, kể từ họ Hồng Bàng cho đến
hết đời nhà Triệu... ”
(VNSL, trang ix, Trần
Trọng Kim)
Tiếp theo đó là: Phần I, Thượng cổ
thời đại.
Chương
I, Họ Hồng Bàng.
(2879-258 Tr. Tây lịch)
Họ Hồng Bàng
Nước Văn Lang
Truyện cổ tích về
đi Hồng Bàng:
Phù Đổng Thiên Vương, Sơn tinh, Thủy
tinh
(VNSL, TTK, trang 11)
Có vài nhận xét xin tŕnh bày với độc
giả:
Thứ nhất, theo phần mới
trích trên th́ lịch sử Việt Nam bắt đầu
từ Họ Hồng Bàng làm vua ở nước ta
(câu nầy là nằm ḷng của học sinh tiểu
học, khi mới bắt đầu học lịch
sử), kể từ năm đầu tiên của lịch
sử v́ Kinh Dương Vương làm vua ở nước
Xích Quỷ vào quảng năm nhâm tuất (2879 trước
Tây lịch?)
Theo tôi nghĩ, thời gian th́ đúng, nhưng
năm th́ chưa chắc đúng nên Trần Trọng
Kim mới để dấu? sau chữ Tây lịch.
Cọng chung, từ năm 2879 trước Tây lịch
+ năm 2000 (cứ cho là năm Nguyễn Bá Chung
(NBC) làm bài văn nầy th́ tổng cọng là 4879
năm. Câu người Việt Nam thường nói
là “Bốn ngàn năm lịch sử” hoặc “Bốn
ngàn năm văn hiến” là theo cách tính năm
như trên.
Vậy mà theo bài trên của NBC, ông viết: -
“với hai ngàn năm lịch sử mà vẫn chưa
thành tựu được”. Hai ngàn năm nầy
ở đâu ra? NBC hiểu sai lịch sử hay Nguyễn
Hữu Luyện chép lại sai?
Nếu tính chỉ có hai ngàn năm lịch sử
(kể từ đầu Tây lịch cho tới giờ)
th́ 18 đời vua Hùng Vương của họ Hồng
Bàng nằm ở đâu? Mỗi năm “Giỗ Tổ
Hùng Vương” là tổ của ai? Cậu bé
ở làng Phù Đổng (làng Phù Đổng ở Bắc
Ninh, Bắc VN) là “Phù Đổng Thiên Vương”
thuộc lịch sử nước nào nhỉ? Và
chuyện “Sơn tinh, Thủy tinh” huyền thoại
hóa về nạn lụt ở sông Hồng th́ ai
đă dời núi Tản Viên và sông Hồng đi
đâu mất rồi?
Những người Cọng Sản (và cả
những người theo đuôi Cọng sản) thường
là “thiên tài”: Trước 1975 th́ có thiên tài Nguyễn
Văn Trỗi, Cù Chính Lan, Lê Mă Lương
(đang c̣n sống và vinh quang lắm!) Phan Đ́nh
Giót “lấy thân ḿnh lấp lỗ châu mai”. Bây
giờ th́ có “thiên tài thu ngắn lịch sử
Nguyễn Bá Chung”. Cũng nhờ thiên tài đó
mà Nguyễn Bá Chung được Mỹ cho làm
Giám Đốc chương tŕnh nghiên cứu về người
tỵ nạn Cọng sản của WJC/UMB.
Xin trở lại ba ư chính nói trên:
Một là Mỹ có những mục đích cao
cả ở VN - tự do và dân chủ.
Kể từ quan hệ Mỹ Việt hồi
thế kỷ thứ 19 tới giờ ta thấy:
Theo chân các nước Tây phương đi t́m
thuộc địa, Hoa Kỳ t́m kiếm cơ hội
buôn bán với các nước bên kia Thái B́nh Dương.
Từ đầu thế kỷ
19, vài người Mỹ đến An-Nam (Việt
Nam bấy giờ), t́m cách tiếp xúc với triều
đ́nh Huế để đề nghị giao
thương. Chính phủ Mỹ cử đại diện
là ông Edmund Roberts, đi trên tàu Peacock của Hải
quân Mỹ do David Geisinger làm thuyền trưởng
đến các nước châu Á thực hiện sứ
mệnh như trên. Công việc của ông không
thành.
Sau đó, chiến hạm Mỹ Constitution thực
hiện chuyến đi ṿng quanh thế giới. Khi
tàu ghé lại Đà-Nẵng, th́ có một giáo dân
lén báo cho biết giám mục Lefrèvre đang bị
giam ở Huế v́ tội giảng đạo trái
phép. Thuyền trưởng John Percival, là một người
nóng tính, dễ gây xung đột, được
giới hàng hải đặt cho biệt danh là “Mad-Jack”,
nghe tin, tức giận bèn cho binh lính của y đổ
bộ lên bờ, bắt 5 người dân và 3 ông
quan của triều đ́nh Huế, đánh ch́m 3
thuyền buồm, để buộc triều đ́nh
Huế thả giám mục Lefèvre. V́ vậy, triều
đ́nh Huế phải giao giám mục Lefèvre cho một
chiến hạm ngoại quốc.
Triều đ́nh Huế cử đại diện
đên gặp lănh sự Mỹ ở Singapore là ông
Joseph Balestier, than phiền việc làm của “Mad-Jack”
và yêu cầu trừng phạt tên nầy. J. Balestier
báo cáo về Mỹ, kèm theo lời đe dọa của
triều đ́nh Huế rằng nếu người
Mỹ nào đến Việt Nam mà có hành động
như J. Percival sẽ bị triều đ́nh trừng
phạt. V́ bản tường tŕnh của J.
balestier, chính phủ Mỹ gởi đại diện
đi trên tàu USS Plymouth đến Huế để
xin lỗi. V́ sự vụng về của các quan nhỏ
ở địa phương, thư xin lỗi của
bộ Ngoại giao Mỹ không đến được
triều đ́nh Huế. Không nhận được
phúc đáp từ phía An-Nam, J. Balestier tức giận
tuyên bố rằng nếu triều đ́nh Huế
trừng phạt bất cứ một du khách Mỹ
nào đến An Nam th́ chính phủ Mỹ sẽ gởi
tới một đội quân hùng mạnh.
Khoảng thập niên 1850, Đô đốc Perry tới
các nước châu Á, có ghé lại Đà Nẵng. Sau
chuyến đi, ông khuyến cáo chính phủ Mỹ
nên mở rộng hữu nghị với các nước
Đông Nam Á.
Sau khi Pháp xâm lăng An Nam, Bùi Viện là người
nh́n xa thấy rộng hơn cả, biết Mỹ
có thể giúp An Nam chống Pháp, nên ông ta lén
đi Hồng-Kông gặp lănh sự Mỹ. Lănh sự
Mỹ đồng ư giúp đỡ nhưng phải
có văn thư chính thức của chính quyền
An-Nam.
Ngờ rằng vua Tự đức không nhiệt
t́nh trong việc cầu viện nầy, Bùi Viện
làm giả một quốc thư và may một bộ
quần áo tam phẩm, rồi cùng một người
bạn đi Hoa Kỳ qua ngă Hồng Kông.
Tổng thống Mỹ lúc bấy gi là Ulysses
S. Grant, đang có mâu thuẫn với Napoleon III nên bằng
ḷng giúp đỡ. Tuy nhiên, Bùi Viện lại sợ
v́ việc nầy chưa tŕnh lên nhà vua, nên xin nước
để tâu lên vua Tự Đức.
Được tâu, vua Tự Đức vui mừng cử
Bùi Viện đi Mỹ với thư chính thức,
phong cho Bùi Viện làm chánh sứ.
Khi Bùi Viện qua Mỹ lần thứ hai, v́
mâu thuẫn giữa Pháp và Mỹ đă giải quyết
xong, nên phía Mỹ đặt ra những điều
kiện khó khăn. Biết đó là cách từ chối
khéo, nên Bùi Viện thất vọng ra về. (*)
Xem thế, người ta thấy v́ quyền lợi
Mỹ, họ muốn giúp Bùi Viện, và cũng v́
quyền lợi Mỹ, tổng thống Mỹ làm
ngơ để Bùi Viện thất vọng ra về.
Qua thế kỷ 20, sau Thế Giới Chiến
Tranh Thứ Nhứt, người Mỹ muốn co cụm
lại theo chủ nghĩa Monroe, nên không muốn
dính líu đến những vấn đề ngoài
châu Mỹ. Cũng v́ vậy, tại hội nghị
Versaille năm 1919, Nguyễn Ái Quốc có đưa
thư tŕnh bày việc Thực Dân Pháp cai trị
và bóc lột các nước Đông Dương, tổng
thống Mỹ cũng không lưu tâm tới.
Ngược lại, ngay trong khi Thế Giới
Chiến Tranh Thứ Hai chưa chấm dứt, với
Đông Dương, Tổng Thống Mỹ đă chuẩn
bị chính sách ủy trị (Trusteeship). Theo chính
sách nầy, sau một thời gian dưới sự
quản trị của một Hội Đồng Ủy
Trị mà Mỹ nắm địa vị then chốt,
các nước Đông Dương sẽ được
độc lập. Cũng theo chính sách nầy, Pháp
không được phép trở lại Đông Dương.
Cung cách “ủy trị” như thế, sau bộ mặt
nhân đạo trao trả độc lập, quyền
lợi Pháp sẽ mất và quyền lợi Mỹ
sẽ được mở rộng ở Đông Dương.
V́ Staline chuẩn bị đấu
tranh với phe Tư bản, thêm một lần nữa,
Mỹ làm ngơ trước lời kêu gọi của
Hồ Chí Minh, sau khi chính phủ Hồ Chí Minh
được thành lập năm 1945. Sau năm
1952, với chính phủ mới, Mỹ thực hiện
chiến lược bao vây Khối Cọng Sản bằng
học thuyết Domino của ngoại trưởng
Mỹ Foster Dulles, Việt Nam trở thành con cờ
trong bức trường thành bao vây Cọng Sản,
kéo dài từ Châu Âu qua tới Nhật Bản, măi
đến sau ngày 21 tháng 2/1972, ngày Tổng Thống
Nixon đến thăm Mao Trạch Đông tại Trung
Nam Hải, Mỹ-Tàu bắt tay nhau rồi, học
thuyết Domino không c̣n giá trị nữa, Hà Nội
thắng Saigon hay Saigon thắng Hà Nội không c̣n
thiệt hại ǵ tới quyền lợi Mỹ
ở Đông Dương nữa th́ Mỹ phủi tay
trước li kêu cứu của Nam Việt Nam năm
1975. Gần cuối tháng Tư/1975, Tổng Thống
Gerald Ford đi nghỉ mát và chơi tennis. Trong một
cuộc họp báo, một phái viên báo chí hỏi
phát ngôn nhân ṭa Bạch Ốc: “Tại sao trong
t́nh h́nh miền Nam VN đang dầu sôi lửa bỏng
như thế, Tổng Thống Ford lại đi
đánh tennis?” Phát ngôn nhân ṭa Bạch Ốc hỏi
lại: “Nếu Tổng Thống Ford không đi
đánh tennis th́ ông nghĩ tổng thống sẽ
làm ǵ?” Mọi việc coi như huề.
Qua một quá tŕnh lịch sử
như thế, vào lúc nào, bằng hành động nào
ở trên trường quốc tế hay tại Việt
Nam, và với ai, mà Nguyễn Bá Chung viết rằng
Mỹ có những mục đích cao cả ở VN
- tự do và dân chủ.
Mỹ thực hiện tự do và dân chủ
cho người Việt Nam chăng?
Tôi là người Mỹ gốc
Việt, tôi tuyên thệ trung thành với nước
Mỹ khi tôi làm lễ nhập quốc tịch Mỹ,
tôi được chính phủ và nhân dân Mỹ
giúp đỡ khi tôi đến định cư
ở Mỹ với giấy chứng nhận của
Liên Hợp Quốc rằng tôi là người tỵ
nạn chính trị, nhưng tôi không cần phải
nói nịnh Mỹ như câu nói trên của ông Nguyễn
Bá Chung.
Hễ có nịnh trên th́ nạt dưới,
hoặc ngược lại, nạt dưới th́
nịnh trên. Nguyễn Bá Chung nạt dưới, có
nghĩa là khinh thị những ngưi ông cho là thua
ông ta, ông cho là thứ “vết rêu của sỏi
đá”, “vết bầm cuối cùng”, “giọt
nước của ao tù”, v.v... th́ ông nịnh
trên, nịnh Mỹ, vẽ râu cho Mỹ những
điều cao đẹp mà thực ra, Mỹ không
có làm ǵ hết ở Việt Nam, Mỹ không thực
hiện tự do dân chủ cho người Việt
Nam như Nguyễn Bá Chung đă nịnh. Điều nịnh
ấy có ǵ lạ chăng? (Trong chế độ Cọng
Sản, những thứ nầy nhiều lắm, xin
xem tranh biếm họa kèm sau đây).
Ba là Hồ Chí Minh có tất cả đầy
đủ sự nghiệp chính nghĩa - độc
lập, thống nhất và công lư xă hội.
Về Hồ Chí Minh, sách báo hải ngoại
nói về ông ta cũng đă nhiều, Nguyễn Bá
Chung một là làm biếng đọc sách, hay không
chịu đọc sách nên không biết ǵ thêm. Cũng
có thể ông chê những sách đó nhảm nhí,
không đáng cho ông ta đọc. Nói như thế
cũng sai v́ Khổng tử có nói: “Người
ta khen ai ta cùng phải nghe, người ta chê ai, ta cũng
phải nghe”. Người bất trí là người
chỉ ưa nghe lời nói nịnh, nghe những ǵ
trúng ư ḿnh mà thôi. Tranh luận với một người
như thế, chỉ thêm mất th́ giờ. Tôi chỉ
nêu ra đây vài điểm gúc mắc mà thôi:
Năm 1990, tổ chức Uneso có trụ sở
ở Pháp, dự trù làm kỷ niệm 100 năm
ngay sinh của Hồ, nhưng cuối cùng lại bải
bỏ là v́ sao?
Nói về tuổi trẻ của Nguyễn Tất
Thành, thực chất không có ǵ hay ho đẹp dẽ
như Cọng Sản Việt Nam tuyên truyền cả.
Nhận sinh sau đây nói lên đầy đủ và
ư nghĩa về huyền thoại tuổi trẻ một
con người tầm thường hơn cả tuổi
trẻ của nhiều thế hệ sau Hồ Chí
Minh:
“...Người ta
cũng có thể đi đến kết luận rằng
trong khoảng thời gian 1908-1911, Thành là một
lăng tử vô định. Việc học hành lỡ
dở, gia cảnh ly tán v́ người cha rượu
chè bê tha, hung dữ, cậu đă vượt ra ngoài
khuôn khổ thông thường của một người
dưới phố. Có thể cậu đă theo cha
vào Nam, học nghề bốc thuốc. Hoặc có
thể đă làm chân phụ bếp cho một khách
sạn người Hoa, hay thư kư của một
đồn điền nào đó. Trong một phút phẫn
chí v́ thất t́nh một cô bán cơm chợ Đa
Kao, cậu đă đăng kư làm bồi tàu, hy vọng
cuộc sống phiêu lưu trôi nổi nơi đất
lạ sẽ giúp quên đi dĩ văng, phó mặc
đi sống nổi trôi theo ḍng đời. Ước
muốn t́m “chân lư” giải phóng đất
nước, nếu có, cũng chỉ thoáng hiện,
thoáng biến, mập mờ hư ảnh.
(Hồ Chí Minh,
con người và huyền thoại,
trang 140)
So với cựu đại tá Cọng Sản
Bùi Tín, Nguyễn Bá Chung có thể trẻ hơn một
thế hệ. Hiểu biết về Cọng Sản
Việt Nam và Hồ Chí Minh, ông Bùi Tín hiểu biết
và có kinh nghiệm hơn nhiều. Ông Bùi Tín tham
gia kháng chiến khi c̣n trẻ, lại hoạt động
trong ngành báo chí, và thân sinh ông Bùi Tín, cụ Bùi Bằng
Đoàn nguyên là thượng thư Bộ Học, từng
tham gia chính phủ Hồ Chí Minh trong thời kỳ
kháng chiến chống Pháp. Dĩ nhiên, nhận
định của ông Bùi Tín về Hồ Chí Minh
không thể là không xác đáng:
“Việc nêu lên chuyện anh Nguyễn Tất
Thành v́ thấy cách mạng bị bế tắc do
chủ trương Đông Du và cải lương thất
bại nên ra đi để t́m đường cứu
nước là cố nói lấy được nhằm
tô vẻ lănh tụ... ”
“Một vấn đề rất
lớn về ông Hồ Chí Minh: ông ta là người
yêu nước theo chủ nghĩa dân tộc hay là
một người Cọng Sản”.
(Mặt Thật-
trang 99)
Ông HCM là người yêu nước thực
chăng? Vậy th́ ông xin vào học trường
Thuộc Địa để làm ǵ? Ngày 15 tháng 9 năm
1911, sau khi đến Pháp, ông làm đơn xin vào học
trường Thuộc Địa, là trường đào
tạo người Việt Nam sau khi tốt nghiệp
th́ ra làm việc cho Pháp. Dĩ nhiên là làm quan. Những
người Việt xuất thân ở trường
nầy và nổi tiếng có Bùi Quang Chiêu, Giáo sư
Lê Văn Chỉnh, Thân Trọng Huề, Lê văn Miên,
Bùi Kỷ, Bùi Thiện Cơ, Phan Kế Toại,
Trương Như Định. Muốn vào học trường
nầy, ít ra, phải đậu thi Hương (cử
nhân), cũng có người đậu phó bảng,
nhưng cũng có người chỉ là ấm sinh
(con quan). Nguyễn Tất Thành không có bằng cấp
ǵ hết, chỉ là ấm sinh, nhưng thuộc hàng
quan lại không có thế lực (cha làm quan nhỏ
(tri huyện) và bị cách chức v́ can tội say
rượu đánh chết dân). Biết vậy,
Nguyễn Tất Thành rất khúm núm và nịnh bợ
trong đơn bằng những câu như “muốn
được hữu dụng cho nước Pháp”
(không phải cho dân tộcViệt Nam như Cọng
sản tuyên truyền), và “công bộc trung thành”
(serviteur dévoué) cho các quan Pháp.
(Xem
phần phụ bản trong HCM,
Con Người
và Huyền Thoại của Chính Đạo,
trang 26)
HCM c̣n tệ hơn thế nữa, Bùi Tín c̣n
cho biết:
“ ... Thật ra
ông Hồ Chí Minh ít có chính kiến riêng về
đường lối chính trị. Đến tinh thần
dân tộc trong tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lênin
như ông Tito ở Nam Tư, ông Hồ cũng không
có. Ông tuyệt đối tin tưởng ở
đường lối và kinh nghiệm của Liên
Xô, không một chút phê phán với thái độ
giáo điều”.
(Mặt Thật,
Bùi Tín-
trang 99)
Về cuộc đời riêng của HCM, thôi
khỏi nói tới những bà vợ Nga, vợ Tầu
hay vợ Mường, vợ Mọi của ông, ông
làm tuốt, chỉ nói tới một vụ Nguyễn
Thị Xuân cũng đủ thấy người Việt
Nam không ai dám làm như Hồ Chí Minh, nếu c̣n
chút lương tâm.
Đầu năm 1955, Nguyễn Thị Xuân, khoảng
20 tuổi, quê ở Ḥa An, Cao Bằng về phục
vụ “bác”, lúc đó 65 tuổi, và sinh ra Hồ
Chí Trung. Mười năm trước 1945, khi HCM mới
cầm quyền, Nguyễn Thị Xuân mới 10 tuổi,
là “cháu ngoan bác Hồ”. Bây giờ “bác” ngủ
với “cháu ngoan” là bác “già đời chưa
trót thế” nghĩa là vậy. V́, - như trong
đơn thưa của vợ chồng Nguyễn Thị
Vàng gởi Chủ Tịch Quốc Hội Cọng Sản
Nguyễn Hữu Thọ, - “Nguyễn thị Xuân
xin ra công khai” là vợ HCM nên Nguyễn Thị
Xuân bị bức tử. Trước khi dựng lên
vụ Nguyễn Thị Xuân bị đụng xe chết,
Trần Quốc Hoàn đă hiếp Nguyễn Thị
Xuân nhiều lần.
Hồ Chí Trung được đem cho Vũ Kỳ
làm con nuôi. Vũ Kỳ có hai con đẻ là Vũ
Vinh và Vũ Quang, c̣n Vũ Trung là con nuôi, con của
Nguyễn Thị Xuân và HCM, là em khác mẹ với
Nông Đức Mạnh, hiện nay là Tổng Bí Thư
đảng CSVN. Vũ Trung là con có cha, mẹ trở
thành đứa con hoang.
Một người từng ăn ở, phục
vụ ḿnh như vợ chồng, ḿnh lại làm ngơ
cho bộ hạ hiếp dâm rồi cho giết đi
để giữ tiếng cho ḿnh là “Cha già dân tộc”,
v́ dân v́ nước mà không lập gia đ́nh. Người
đó là người ǵ? Có xứng làm chồng hay
không? Minh quân hay bạo chúa?
Một người có con, không nuôi con mà
đem cho, cũng để giữ cho ḿnh cái tiếng
là “Cha già dân tộc”, v́ dân v́ nước mà
không lập gia đ́nh. Người đó là người
ǵ? Có xứng làm cha hay không? Minh quân hay bạo
chúa?