VIỆT
NAM
: HỌC ĐI ĂN MÀY ?
Báo
cáo của Quốc Hội
: “Chất lượng giáo dục nh́n chung c̣n yếu
kém, bất cập; lối học khoa cử vẫn
c̣n nặng nề, giáo dục chỉ chú ư đến
truyền đạt kiến thức nhằm ứng
phó vớ các kỳ thi...”
Phạm Trần
Hoa
Thịnh Đốn.- Căn
cứ trên hai Báo cáo của Bộ Giáo dục và Quốc
hội về t́nh h́nh Giáo dục ở Việt Nam
th́ tuy nhà nước
nói đổi mới nhưng Phụ huynh và Học
sinh trong nước đang
phải ṃ mẫm
trong con
đường hầm tụt hậu
mà lại gặp phải đủ loại khó
khăn và phường bát nháo làm đảo lộn
luân thường đạo lư và
làm tha hóa đạo đức con người
Việt Nam.
Từ
quan điểm chỉ đạo, Đảng Cộng
sản Việt Nam trong
Đại hội đảng lần VIII đưa
Lê Khả Phiêu thay Đỗ Mười,
chủ trương giáo dục là nhằm: “ Xây
dựng con người Việt Nam phát triển toàn
diện, có lư tưởng, đạo đức, có
tính tổ chức và kỷ luật, có ư thức cộng
đồng và tính tích cực cá nhân, làm chủ
tri thức hiện đại, có tư duy sáng tạo,
kỹ năng thực hành, tác phong công nghiệp và
có sức khoẻ, đáp ứng yêu cầu xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc.”
“Phát
triển giáo dục là quốc sách hàng đầu.
Giáo dục là sự nghiệp của toàn Đảng,
của Nhà nước và của toàn dân. Phát triển
giáo dục theo hướng chuẩn hóa, hiện
đại hóa, xă hội hóa, gắn với nhu cầu
phát triển kinh tế - xă hội và củng cố
quốc pḥng, an ninh.”
(Báo cáo của Chính phủ do Bộ trưởng Giáo
dục Nguyễn Minh Hiển đọc trước
Quốc hội ngày 15-11-2004)
Nhưng những người
hoạch định chính sách Giáo dục lại chưa
coi Giáo dục là điều kiện tiên quyết,
là đ̣n bẩy và là nền tảng của việc
phát triển và xây dựng đất nước.
Họ chú trọng
nhiều đến việc làm sao biến học
sinh – sinh viên thành các đảng viên Cộng sản
trung kiên, thấm nhuần chủ nghĩa Mác-Lênin
và điều được gọi là “Tư
tưởng Hồ Chí Minh”
để nối tiếp thế hệ cha anh
nuôi dưỡng và bảo vệ cho bằng
được quyền lănh đạo độc tôn
của đảng Cộng sản Việt Nam.
Báo
cáo của Hiển viết về sự gọi là
“tiến bộ”của học sinh : “ Nội
dung giảng dạy và kiến thức của học
sinh phổ thông có tiến bộ, toàn diện hơn
và tiếp cận dần với phương pháp học
tập mới. Trong giáo dục nghề nghiệp, chất
lượng đào tạo của một số
ngành nghề như y dược, nông nghiệp, cơ
khí, xây dựng, giao thông vận tải, v.v. về
cơ bản đă đáp ứng yêu cầu của
thực tế sản xuất và đời sống
hiện nay. Đặc biệt, sự tiến bộ
về nhận thức chính trị và trách nhiệm
xă hội của học sinh, sinh viên cùng với
đội ngũ giáo viên, giảng viên đă góp
phần vào việc bảo đảm ổn định
chính trị của đất nước trong
điều kiện có nhiều biến động
của t́nh h́nh quốc tế và âm mưu, hành
động của các thế lực thù địch
đối với nước ta thời gian vừa
qua.”
Nnhư vậy là họ đă ”chính trị hoá học
đường”. Họ bắt các thầy cô và học
sinh phải học tập chính trị, phải học
chủ nghĩa Mác-Lênin và những điều Hồ
Chí Minh nói khi c̣n sống cùng những điều
mơ hồ gọi là ”âm mưu, hành động
của các thế lực thù địch đối
với nước ta thời gian vừa qua.”
Chủ
trương này hoàn toàn không ăn nhập ǵ đến
việc học nhưng lại chiếm phần quan
trọng quyết định về sự thành bại
và hạnh kiểm của thầy và học sinh,
sinh viên. Nhưng sự
cưỡng ép phản giáo dục này cũng không
được các giới hưởng ứng. Học
sinh, sinh viên th́ lơ là chỉ lo có mặt trong lớp
cho khỏi bị hạnh kiểm xấu c̣n thầy
th́ cũng chỉ biết đọc
bài cho học sinh chép cho xong nhiệm vụ.
Hiển
nh́n nhận : “Chất
lượng giáo dục đại trà, đặc
biệt ở bậc đại học c̣n thấp;
phương pháp giáo dục c̣n lạc hậu và
chậm đổi mới.Kiến thức cơ
bản về xă hội, kỹ năng thực hành
và khả năng tự học của số đông
học sinh phổ thông c̣n kém. Nhà trường phổ
thông vẫn chưa khắc phục được
t́nh trạng thiên về dạy chữ, nhẹ về
dạy người. Công tác hướng nghiệp,
phân luồng học sinh sau THCS và THPT c̣n chưa
được quan tâm đúng mức. Chất lượng
đào tạo đại trà của giáo dục nghề
nghiệp và đại học c̣n thấp, t́nh trạng
người học thiếu cố gắng, thiếu
trung thực trong học tập khá phổ biến;
tinh thần hợp tác, khả năng sáng tạo, năng
lực thực hành, giải quyết độc lập
các vấn đề c̣n yếu. Chất lượng
giảng dạy, học tập các môn chính trị
c̣n thấp, hiệu quả chưa cao. Các ngành mũi
nhọn, các lĩnh vực công nghệ mới
ở dạy nghề, đại học, sau đại
học nh́n chung c̣n kém các nước tiên tiến
trong khu vực về cả nội dung lẫn phương
pháp đào tạo. Về cơ bản, chưa xây
dựng được các ngành nghề đào tạo
mũi nhọn ngang tầm khu vực và quốc tế.”
”Ở
tất cả các cấp học, bậc học,
cách dạy, cách học trong các nhà trường chủ
yếu vẫn là truyền thụ một chiều,
nặng về lư thuyết, nhẹ về thực
hành, chưa phát huy tinh thần tự học và tư
duy sáng tạo của người học. Cách thức
đánh giá, tổ chức thi cử chậm
được đổi mới, tạo ra tâm lư dạy
và học để đối phó với thi cử,
gây căng thẳng cho người học, người
dạy, cho xă hội, làm chậm quá tŕnh đổi
mới phương pháp dạy và học trong nhà trường.”
GIÁP MẶT SOI GƯƠNG
Trong
khi đó, Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Văn
hoá, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng
của Quốc hội do Chủ nhiệm Bà Trần
Thị Tâm Đan đọc
trước Quốc hội hôm 15-11 (2004) cũng ó
những điểm đáng chú ư như sau :
1)- “Chất lượng
giáo dục nh́n chung c̣n yếu kém, bất cập;
lối học khoa cử vẫn c̣n nặng nề,
giáo dục chỉ chú ư đến truyền đạt
kiến thức nhằm ứng phó vớ các kỳ
thi, chưa chú trọng đến việc xây dựng
tư duy sáng tạo, tự học, tự nghiên cứu,
kiến thức chuyên ngành ít được cập
nhật, tŕnh độ ngoại ngữ, tin học
yếu, kỹ năng nghề nghiệp c̣n hạn
chế, chưa chú trọng đúng mức việc
giáo dục đạo đức, lối sống,
động cơ học tập cho học sinh, sinh
viên.”
2)- “Việc cụ thể hóa đường
lối, quan điểm của Đảng, Nhà nước
về giáo dục thành những
chính sách cụ thể và nghiên cứu xây dựng
cơ sở lư luận cho đổi mới giáo dục
c̣n hạn chế. Trong thực tế, có t́nh trạng
c̣n lúng túng và chậm trễ trong thời kỳ
đổi mới, xây dựng nền kinh tế mở,
áp dụng cơ chế thị trường thị
trường theo định hướng XHCN trong quản
lư kinh tế.”
3)- “Ở các trường
ĐH, CĐ, THCN (Đại học, Cao đẳng,
Trung học Chuyên nghiệp), dạy nghề, tuy cũng
đă có nhiều việc làm để cải tiến
nội dung chương tŕnh và phương pháp nhưng
nh́n chung nội dung chương tŕnh thiếu cập
nhật kiến thức mới và chưa hội nhập
được với tŕnh độ giáo dục thế
giới, giáo tŕnh thiếu và lạc hậu, tỷ
lệ thời gian dành cho các môn học chưa hợp
lư. Mô h́nh giáo dục ĐH chậm đổi mới,
chưa có ngành đào tạo mũi nhọn nào, chưa
có trường ĐH nào của nước ta có thể
liên thông được với các trường
ĐH khu vực và thế giới.”
4)- Quốc hội CSVN đă có Nghị quyết 40
yêu cầu Bộ Giáo dục đổi mới giáo
dục Phổ thông, nhưng Bà Tâm Đan phê b́nh :
“Việc đổi mới chương tŕnh
giáo dục phổ thông không đồng bộ với
đổi mới chương tŕnh đào tạo
ở các trường sư phạm mà đúng ra việc
đổi mới chương tŕnh ở các trường
sư phạm phải được thực hiện
trước khi đổi mới ở giáo dục
phổ thông. “
Về trang thiết bị cho việc học để
mở mang trí tuệ cho học sinh, sinh viên
th́ Việt Nam, nhất là trong lĩnh vực khoa học
– kỹ thuật th́ Việt Nam
là nước lạc hậu nhất trong khu vực
Đông Nam Á về sách vở, phương tiện
và khả năng cập
nhật với những tiến bộ trên
thế giới của
Thầy dậy.
Báo cáo viết tiếp : “Trang thiết bị,
đồ dùng dạy học phục vụ cho thay
SGK mới c̣n thiếu, không đồng bộ,
chưa bảo đảm chất lượng;
hơn nữa việc cung cấp trang thiết bị
c̣n chậm, thậm chí hết học kỳ 1 mà
nhiều trường vẫn chưa có đủ
trang thiết bị, đồ dùng dạy học.”
“Các
điều kiện đảm bảo cho giáo dục
nhất là cho đào tạo nguồn nhân lực
c̣n thấp so với yêu cầu đảm bảo
chất lượng, đặc biệt là các
điều kiện để chuẩn hóa và hiện
đại hóa giáo dục, tiếp cận với
giáo dục khu vực và quốc tế c̣n rất bất
cập.”
“... Cơ cấu đội
ngũ giáo viên chưa đảm bảo, ở hầu
hết các địa phương đều thiếu
giáo viên các môn mỹ thuật, âm nhạc, thể
dục, thể thao… Công tác bồi dưỡng
thường xuyên để cập nhật kiến
thức hàng năm chưa quy định thành chế
độ bắt buộc. Một bộ phận giáo
viên chưa dành thời gian tự học, tự bồi
dưỡng nên tŕnh độ chuyên môn và phương
pháp sư phạm c̣n bất cập...”
5)- Trong khi giáo dục đ̣i
hỏi phải có tŕnh độ và nhu cầu huấn
luyện để mở
mang trí tuệ cho thầy dạy, nhất là ở bậc
Đại học, th́ tiền
ngân sách dành để đưa các nhà giáo ra nước
ngoài học hỏi đă
bị đem dùng vào việc chẳng liên hệ ǵ
đến giáo dục. Bà Tâm Đan nói : “Gần
30 năm qua, việc đào tạo, bồi dưỡng
cán bộ giảng dạy chủ yếu được
thực hiện ở trong nước, đại
đa số cán bộ giảng dạy không có
điều kiện giao lưu, trao đổi học
thuật với các trường ĐH của thế
giới. Trong những năm gần đây, Nhà nước
chủ trương đầu tư ngân sách để
đưa cán bộ giảng dạy và cán bộ
nghiên cứu đi đào tạo, bồi dưỡng
ở nước ngoài nhưng tiếc rằng trong
thời gian tổ chức thực hiện, Bộ
GD-ĐT đă phân bổ tới 23% chỉ tiêu
nghiên cứu sinh, thực tập sinh cho cán bộ,
công chức ở các cơ quan hành chính nhà nước,
các tổ chức đoàn thể, trong khi đó yêu
cầu bồi dưỡng đối với cán bộ
công chức của các cơ quan này là kiến thức
theo chiều rộng về quản lư xă hội hiện
đại, năng lực hành chính, các kỹ năng
quan hệ xă hội… chứ không phải là kiến
thức của một chuyên ngành kinh tế, kỹ
thuật hẹp. “
Điều này có nghĩa là cán bộ, công chức
nhà nước làm những viện
không liên quan ǵ đến giáo dục lại
được gửi ra nước ngoài gọi là
“nghiên cứu”, trong khi những Nhà giáo muốn
được đi học hỏi thêm để về
dạy lại cho học tṛ lại không được
Bộ Giáo dục cho đi !
THAM NHŨNG – GIAN DỐI-XUỐNG CẤP
Từ mấy năm nay, các Nhà giáo
có uy tín ở trong nước,
từng dạy lên người bao thế hệ
đă cùng với vô số bậc phụ huynh và
các Đại biểu Quốc hội lên tiếng
phê phán gắt gao tệ nạn tham nhũng và gian dối
trong giáo dục.
Báo
cáo của Chính phủ viết : «T́nh trạng
đáng lo ngại hiện nay là c̣n nhiều sinh
viên thiếu trung thực trong học tập và thi cử;
một bộ phận chưa có hoài băo, lư tưởng;
một số vi phạm nội quy, quy chế, có biểu
hiện của lối sống hưởng thụ,
đua đ̣i. Tệ nạn xă hội, nhất là
ma tuư, cờ bạc, mê tín, vi phạm pháp luật
trong sinh viên, tuy ít nhưng chưa ngăn chặn
được, gây nhiều lo lắng trong xă hội.
Việc tuyển sinh chặt chẽ nhưng đánh
giá quá tŕnh học tập lại lỏng lẻo, dẫn
đến t́nh trạng nhiều sinh viên chưa
chăm chỉ học tập. Sinh viên ít có điều
kiện tham gia nghiên cứu khoa học; năng lực
tự học, tự nghiên cứu, thực hành, khả
năng giao tiếp và hợp tác trong công việc
c̣n yếu. Tŕnh độ ngoại ngữ của
sinh viên tốt nghiệp chưa đáp ứng yêu cầu
hội nhập. Chất lượng đào tạo
sau đại học, đặc biệt là chất
lượng của một số luận án tiến
sỹ c̣n thấp, chưa theo kịp tŕnh độ
phát triển khoa học, công nghệ và chưa gắn
với cuộc sống. »
«.... T́nh
trạng dạy thêm, học thêm tràn lan tồn tại
từ nhiều năm nay, có những biểu hiện
tiêu cực nhưng chưa t́m được giải
pháp cơ bản để ngăn chặn có hiệu
quả. Tệ nạn
sử dụng văn bằng, chứng chỉ không
hợp pháp; hiện tượng “học giả, bằng
thật”, không trung thực trong học tập và
thi cử, sao
chép luận văn, luận án có xu hướng lan
rộng, ảnh hưởng xấu đến chất
lượng đào tạo, đến đạo
đức của thế hệ trẻ
và ḷng tin của xă hội.”
”Bệnh
thành tích đă tác động đến quá tŕnh
giảng dạy, học tập, đánh giá học
sinh, cũng như công tác quản lư giáo dục,
và đây là một trong những nguyên nhân làm cho
việc đánh giá t́nh h́nh giáo dục, nhất là
về chất lượng, chưa phản ánh hết
thực chất.”
Báo cáo của Quốc hội
th́ chua chát nói ra những điều tai đă nghe,
mắt đă thấy trong xă hội : “Trong những
năm đổi mới, khi đất nước
chuyển sang nền kinh tế thị trường
định hướng XHCN, kinh tế nước
nhà đă có những bước phát triển nhanh
chóng, đời sống của nhân dân ngày càng
được cải thiện. Tuy nhiên, sự phân
hoá giàu nghèo, sự tác động của mặt
trái cơ chế thị trường, sự
chưa hoàn thiện của hệ thống pháp luật,
công tác quản lư Nhà nước c̣n nhiều bất
cập, các hiện tượng tiêu cực, tham nhũng
xảy ra không c̣n là cá biệt đă ảnh hưởng
mạnh mẽ đến toàn xă hội, trong đó
có đội ngũ nhà giáo. Một số không ít
giáo viên không giữ được vị trí, phẩm
chất người thầy của ḿnh, làm phai nhạt
phần nào h́nh ảnh cao đẹp của người
thầy trong xă hội. Tư tưởng chạy
theo lợi ích vật chất, thiếu tâm huyết,
không thực hiện việc tự nghiên cứu, tự
học, tự bồi dưỡng nên tŕnh độ
chuyên môn của một bộ phận giáo viên
không những không được nâng lên mà ngày
càng mai một đi.”
Cộng thêm với t́nh trạng này là nạn bằng
giả, người thật và bằng thật nhưng
người có bằng lại do mánh mung mà có chứ
không do thi mà được đă lan tràn trong đội
ngũ cán bộ, công chức, đảng viên.
Bà Tâm Đan vạch ra : “Trong những năm gần
đây, sự gian dối trong học tập ngày
càng gia tăng, ở các lớp trên xảy ra nặng
và nhiều hơn lớp dưới, ở người
lớn nghiêm trọng hơn ở thanh thiếu niên.
Sự gian dối tuy chủ ở một bộ phận
người học nhưng lại có tính phổ biến
mà địa phương nào cũng có, từ giáo
dục chính quy, tại chức đến giáo dục
thường xuyên đều xảy ra. “
“Các hiện tượng
chạy điểm, chạy thầy, quay cóp, mua bán
sử dụng phao thi... trước đây rất ít
và người học cảm thấy xấu hổ
khi bị phát hiện th́ bây giờ không ít người
học coi đó là chuyện b́nh thường. Cha mẹ
mua bằng cho ḿnh th́ việc mua điểm cho con là
dễ hiểu. Nhưng hậu quả của việc
làm đó lại làm cho các em học sinh trong lớp
nhận ra sự bất công do người lớn
mang lại, niềm tin của các em vào cha mẹ, thầy
cô bị tổn thương và ảnh hưởng
xấu đến nhân cách của các em đến
mức nào thật khó lường.”
“Khi có chủ trương
tiêu chuẩn hoá cán bộ, công chức, đă dấy
lên một phong trào học tập trong cán bộ,
công chức, trong lực lượng lao động
trẻ. Nhưng rất đáng tiếc, có một bộ
phận người lớn đi học với
động cơ không đúng đắn, không học
tập nghiêm túc, chỉ cần có một tấm bằng
mà không quan tâm đến kiến thức. V́ vậy,
t́nh h́nh học giả bằng thật, hiện tượng
sao chép luận văn thạc sĩ, tiến sĩ xảy
ra không phải ít.”
“Trong lịch sử giáo
dục nước nhà, chưa bao giờ các dịch
vụ làm luận văn, luận án lại
được quảng cáo xung quanh các trường
đại học như hiện nay. Những tiêu cực
của người học, đứng về mặt
giá trị kinh tế th́ không lớn và không đáng
kể so với tham nhũng trong lĩnh vực kinh tế
nhưng sự tổn thất về đạo
đức xă hội, phẩm chất con người
th́ vô cùng nghiêm trọng và hậu quả của
nó làm mất đi niềm tin và sự tôn trọng
của lớp trẻ đối với các bậc
làm cha mẹ, đàn anh của ḿnh mà họ thường
ngưỡng mộ noi theo...”
“.... Việc tuyển chọn,
sử dụng người chưa chú trọng vào năng
lực, tŕnh độ thực tế mà c̣n nặng
về bằng cấp, điều này đă tác
động xấu đến việc xây dựng
động cơ học tập đúng đắn
của người học.
Ngoài ra, nguyên nhân c̣n từ sự buông lỏng
quản lư của các cơ quan quản lư giáo dục,
sự tiêu cực, không nghiêm túc của một số
cán bộ, thầy cô giáo, sự làm ngơ của
cán bộ lănh đạo các nhà trường và cơ
sở giáo dục. Đây là những vấn đề
gây bất b́nh, nhức nhối trong xă hội.
“Thời gian gần đây,
Bộ GD - ĐT đă tiến hành thanh tra việc cấp
văn bằng nhưng cũng chỉ mới giải
quyết được một số trường
hợp và cũng chưa tạo ra được sự
chuyển biến cơ bản của t́nh h́nh.”
Từ những căn
bệnh này, cán bộ giáo dục
ở Việt Nam, nhất là ở cấp Tiểu
học và Trung học
đă thi đua
áp dụng những mánh lớn gian trá khi chấm
điểm thi học sinh để tạo thành
tích cho trường ḿnh. Từ
đó , bảo vệ được địa
vị bằng cách cho điểm không đúng với
khả năng thật sự của học sinh
trường ḿnh.
Việc
làm này đă chứng minh trong các kỳ thi vào
Đại học, theo đó rất nhiều thí
sinh không làm được bài hay đạt điểm
dưới tiêu chuẩn. Trong khi trên giấy tờ
th́ những học sinh này được
điểm từ 85 trở lên khi tốt nghiệp
Trung học !
Bà Tâm Đan nói thẳng : “Nguyên nhân của những
tồn tại, yếu kém trong các kỳ thi là c̣n
do việc chạy theo thành tích quá nặng nề
đă ăn sâu trong ngành giáo dục và lan sang cả
lănh đạo chính quyền các cấp, cả cha mẹ
học sinh; là do buông lỏng quản lư và chạy
theo danh lợi của người học.”
Nhưng Bộ Giáo dục lại đổ mọi
“bất cập”, “thiếu sót” và “chậm
đổi mới” lên đầu cán bộ. Báo
cáo của Nhà nước phê b́nh họ
:” Tư
duy giáo dục chậm được đổi mới,
chưa theo kịp yêu cầu phát triển của
đất nước cũng như đ̣i hỏi
của sự chuyển đổi cơ chế quản
lư kinh tế-xă hội và hội nhập quốc tế.”
”Các
bộ, ngành, các cấp chính quyền địa
phương chưa quán triệt sâu sắc các quan
điểm chỉ đạo của Đảng và
Nhà nước về phát triển giáo dục, chưa
cụ thể hóa kịp thời và đầy đủ
trong việc hoạch định một số chính
sách và tổ chức thực hiện các hoạt
động giáo dục....Cơ chế quản lư
giáo dục chưa tương thích với nền
kinh tế thị trường định hướng
XHCN (Xă hội chủ nghĩa) và nhu cầu phát triển
nguồn nhân lực của đất nước.
Quản lư nhà nước về giáo dục c̣n nặng
tính quan liêu, chưa thoát khỏi t́nh trạng ôm
đồm, sự vụ. Công tác xây dựng quy hoạch,
kế hoạch c̣n nhiều bất cập. ...”
”....
Chính sách tuyển dụng, sử dụng cán bộ
thiên về bằng cấp, chưa chú ư đúng mức
đến năng lực thực tế dẫn
đến t́nh trạng “học giả, bằng thật”
và một số hiện tượng tiêu cực
khác... ”
SỰ
THẬT
Phản
ứng về báo cáo của Nguyễn Minh Hiển
đến từ mọi phiá, từ trong Quốc hội
đến các Thầy cô và người dân. Ai cũng
đồng ư t́nh
trạng Giáo dục
của Việt Nam đang lên cơn sốt cần
phải chữa trị, nhưng Nhà nước lại
cứ coi đó là chuyện ”b́nh thường”,
là hậu quả của thời kỳ đổi mới,
là tại cấp thừa hành không làm đúng chỉ
thị, tại thiếu tiền v.v...
Một
trong những Nhà giáo hàng đầu của Việt
Nam, Giáo sư Hoàng Tụy đă vạch ra những
sai trái của chính sách Giáo dục, trong cuộc phỏng
vấn của Vietnamnet ngày 12-5-2004, trước khi
nghe báo cáo của Hiển. Ông nói :”
T́nh
trạng sút kém của giáo dục kéo dài triền
miên quá lâu, có thể nói cả chục năm
nay rồi. Những chuyện thi cử, dạy thêm,
sách giáo khoa - ba khối u đó có từ lúc nào và
đến nay đă giảm bớt được
ǵ? Với công sức tiền của bỏ ra
đâu phải ít mà kết quả đạt
được chỉ như vậy, vẫn cứ
tụt hậu ngày càng xa, thế là b́nh thường
hay sao? “
“Hai
kỳ tuyển sinh đại học (ĐH) 2002-2003
gây sốc cho mọi người, rồi chuyện
bằng giả, học giả, làm luận án thuê,
v.v... Nếu cứ đà này mà phát triển th́ những
căn bệnh tiêu cực cứ thấm dần vào
xương tuỷ, trở thành thâm căn cố
đế, không thuốc nào chữa khỏi, sẽ
đi tới đâu? “
“Có
người nói chẳng có ǵ đáng lo: Giáo dục
phát triển nhanh như thế này, dân ta hiếu học
như thế này, là hồng phúc lắm rồi,
c̣n phát triển nhanh th́ tất đẻ ra chuyện
này chuyện nọ. Theo tôi, cách suy nghĩ
như thế rất sai lầm và thiếu trách nhiệm.
Tôi thật sự kinh ngạc khi nghe có người
cho rằng nên tuyên dương việc dạy thêm chứ
sao lại cấm. Nguy kịch chính là ở chỗ
đó: Không có ǵ đáng lo hơn là lạc hậu
mà không nhận ra được sự lạc
hậu! “
“Sự
thật là, với tŕnh độ đội ngũ
giáo viên phổ thông của ta, với điều
kiện tài chính, phương tiện vật chất
đă đầu tư, nếu quyết tâm chấn
chỉnh th́ đâu đến nỗi giáo dục
phổ thông không đuổi kịp được
các nước phát triển nhất của khu vực
trong thời gian ngắn. Cái chính là ta làm GD sai
quá. Điều tệ hại là do phổ thông
có quá nhiều chuyện bức xúc, nên cả xă hội tập
trung bàn về phổ thông mà quên ĐH. Trong khi
đó, so với thế giới và các nước
trong khu vực, giáo dục ĐH của ta tụt hậu
c̣n xa hơn giáo dục phổ thông.”
“Nếu
nguyên nhân phổ thông tụt hậu không phải
chủ yếu do đầu tư hay tiềm năng
th́ ở ĐH, cả tiềm năng và đầu
tư đều chưa đủ. Cứ để
ĐH nhếch nhác như hiện nay th́ ảnh hưởng
nặng nề đến toàn bộ các ngành. Muốn
chấn hưng ĐH, có bốn khâu cấp thiết
cần chỉnh đốn: thi cử, đào tạo
thạc sĩ và tiến sĩ, xét phong chức danh
GS, PGS, và chính sách sử dụng giảng viên
ĐH (phổ biến là giáo viên dạy 25-30 giờ
một tuần!).”
Ông
bảo : “ Trên thế giới, không ở đâu
đào tạo thạc sĩ và tiến sĩ nhanh,
nhiều, rẻ, và ẩu như ở nước
ta. Cũng không ở đâu có cách phong GS, PGS kỳ
lạ như ở ta: Năm 1996, lớn tiếng tuyên
bố GS, PGS ta đă phong là hoàn toàn đạt tŕnh
độ quốc tế, nay lại bảo 80% số
GS, PGS đă được phong chưa đạt
chuẩn mực quốc tế b́nh thường, thậm
chí hầu hết các GS, PGS đă được
phong trước đây c̣n kém hơn! Xây dựng
ĐH theo kiểu ấy, coi GS, PGS, TS đều là
“hàng nội” cả th́ cạnh tranh, hợp tác với
ai được, làm sao hội nhập.”
Giáo
sư Tụy c̣n phê b́nh : “ Ở
Bộ GD-ĐT,
phải nói là
c̣n rất bảo thủ. Chẳng hạn,
việc ra đề thi ĐH theo một bộ đề
thi in thành sách, bao nhiêu người “phê
phán" mà sau tám năm mới bỏ được.
Rồi chuyện coi GS, PGS là "học
hàm": Phải ngót 20 năm mới xác
định trở lại là "chức danh",
nhưng cũng chỉ mới h́nh thức thôi. Hay
như chuyện thi tiểu học, có lần Phó Chủ
tịch nước Nguyễn Thị B́nh tại Quốc
hội đă đề nghị bỏ, Bộ vẫn
"xin" giữ lại, măi vài năm lại
đây mới chịu nghe, nhưng cũng chưa dứt
khoát... (Chú thích : Hiển nói sẽ đề
nghị Quốc hội cho bỏ kỳ
thi Tiểu học từ năm, 2005)
Đó là toàn bộ cái mặt bi thảm của nền
giáo dục hiện nay ở trong nước. Thiết
tưởng chả cần bàn thêm th́ mọi người
cũng muốn bịt tai
lại. Nghe Nhà nước nói hoài chỉ bẩn
thêm tai.
Cái
khổ là đồng bào ta ở trong nước
cứ tiếp tục bị Nhà nước làm
cho ngu đi để đất nước tiếp
tục đi xuống trong khi Đảng và Nhà nước
lại cứ hồ hởi, phấn khởi hô hoán
lên : Đất nước ta
đang tiến nhanh, tiến mạnh, dân ta học
nhiều và học giỏi chả thua kém ǵ ai ! -/-
Phạm
Trần
(11/04)