SỰ LIÊN HỆ CỦA
HỒ CHÍ MINH
VỚI HAI TỔNG THỐNG MỸ
WILSON VÀ TRUMAN
Trong lời kêu gọi
đầu tiên tới những nguyên tắc chính của
chủ thuyết tự quyết của Tổng thống
Mỹ Wilson, Hồ chí Minh đă tránh đ̣i hỏi
sự độc lập tức thời cho Việt
Nam. Thay vào đó, ông ta công bố những quyền
hợp pháp và chính trị mà nước Pháp vẫn
coi như thường cổ súy. Đồng thời,
Hồ vẫn cẩn thận coi chuyện giành độc
lập hoàn toàn là mục tiêu tối hậu, dù có
mệnh đề phụ đi theo sau ( “ Trong khi chờ
đợi nguyên tắc quốc gia tự quyết
được biến từ lư thuyết thành thực
tế ..” ). Đây không phải là lần cuối mà
Hồ chí Minh cố gắng thuyết phục những
nền dân chủ Tây phương rán làm đúng những
điều mà họ vẫn thường nói.
LÁ THƯ CỦA NGUYỄN
ÁI QUỐC GỬI CHO BỘ TRƯỞNG
NGOẠI GIAO MỸ ROBERT
LANSING
Kính ông,
Chúng tôi dùng sự tự
do để nộp lên ông bản kiến nghị
kèm theo nhằm công bố những đ̣i hỏi của
người An Nam trong dịp chiến thắng của
phe đồng minh.
Chúng tôi trông cậy
ở ḷng tốt của quư vị tôn trọng lời
thỉnh cầu của chúng tôi bằng sự
ủng hộ của quư vị bất cứ khi nào
có cơ hội xảy đến.
Chúng tôi cầu xin ông nhận
nơi đây ḷng biểu lộ sự kính trọng
sâu xa của chúng tôi.
Thay mặt cho một nhóm
người An nam yêu nước
NGUYỄN ÁI QUỐC
( Kư tên)
56, rue Monsieur le Prince,
Paris
* Hồ chí Minh được
biết dưới cái tên Nguyễn ái Quốc hồi
đó.
NHỮNG THỈNH CẦU
CỦA NHÂN DÂN AN
NAM
Từ khi có chiến thắng
của phe đồng minh, tất cả những
người bị áp bức đă cuồng nhiệt
hy vọng đến một viễn cảnh của
một thời đại của lẽ phải và
công lư vốn sẽ bắt đầu cho họ bằng
tác dụng của sự cam kết chính thức và
long trọng, được h́nh thành trước
toàn thế giới bởi những sức mạnh
khác nhau của những nước trong khối thân
thiện ( đó là sức mạnh của khối
đồng minh trong Thế chiến nhất, bao gồm
Pháp, Anh và sau năm 1917 có thêm nước Mỹ )
trong cuộc chiến đấu của văn minh chống
lại sự man rợ.
Trong khi chờ đợi
nguyên tắc chính của sự tự quyết quốc
gia để thông qua từ lư tưởng sang thực
tế thông qua sự công nhận hữu hiệu về
quyền thiêng liêng của tất cả mọi người
để quyết định số phận của
họ, đó là nhân dân của đế quốc
xưa An nam, bây giờ là nước Đông Dương
của Pháp, xin đưa ra trước những chính
quyền cao cả của khối thân thiện nói
chung và chính quyền trọng thể Pháp nói riêng
những yêu sách sau đây :
1)
Ân xá toàn diện cho những dân bản xứ vốn
bị lên án v́ những hoạt động chính trị
2)
Cải tổ nền công lư Đông Dương bằng
cách ban cho nhân dân bản xứ những bảo
đảm về công lư mà những người Âu
châu có, và toàn bộ guồng máy ṭa án đặc
biệt vốn là những phương tiện
để khủng bố và đàn áp những
thành phần có trách nhiệm của nhân dân An nam.
3)
Tự do báo chí và ngôn luận
4)
Tự do lập hội và hội họp
5)
Tự do di chuyển và xuất ngoại
6)
Tự do giáo dục và tạo ra những trường
kỹ thuật và chuyên nghiệp trong mỗi tỉnh
cho quần chúng.
7)
Thay thế chế độ cai trị bằng những
sắc luật độc tài bằng một chế
độ luật pháp.
Trên đây là bản kiến
nghị mà Nguyễn ái Quốc gửi cho Bộ trưởng
ngoại giao của Tổng thống
Wilson
là Robert Lansing. Lư do là Tổng thống
Wilson
có đưa ra một sắc luật yêu cầu tất
cả những nước dân chủ hăy ủng hộ
nền dân chủ đang có trên những lănh thổ
của họ. Hồ chí Minh gửi kiến nghị
cho Tổng thống
Wilson
với ước mong là Tổng thống
Wilson
sẽ áp lực Pháp ủng hộ cho chuyện dân
chủ ở Việt
Nam
.
Wilson
không đáp ứng. Sau đó th́ Hồ chí Minh quyết
định t́m kiếm sự giúp đỡ ở một
phe khác, và phe đó chẳng ai khác là Liên xô.
Trong Thế chiến thứ
nhất, Tổng thống
Wilson
thường nhấn mạnh đến chính sách
bao gồm 14 điểm của ông và hô hào quyền
tự quyết của tất cả mọi người.
Lúc ấy, Hồ chí Minh vẫn ngây thơ nghĩ rằng
chính sách của Tổng thống
Wilson
sẽ có thể áp dụng cho những thuộc
địa ở Á châu của thực dân. Nhiều
quốc gia Âu châu cảm thấy quyền tự quyết
là chuyện đúng đắn cho họ, nhưng rơ
ràng là chuyện này không thể áp dụng cho dân bản
xứ ở những thuộc địa của họ.
Uy thế của Tổng thống Wilson cũng giảm
thiểu nhiều v́ sự thất bại của hiệp
ước Versailles, và người Pháp vẫn tin rằng
họ có nhiệm vụ “ khai hóa “ ở Việt
Nam. Việt
Nam
lúc đó không phải là vấn đề nóng bỏng
tại hội nghị
Versailles
và Hồ chí Minh không phải là một nhân vật
quan trọng để được chú ư đến.
Trong khi Tổng thống
Wilson
có thể có cảm t́nh với Việt
Nam
, nhưng rồi ông phải coi mối giao hảo giữa
Mỹ và Pháp là chuyện quan trọng hơn. Và
Pháp th́ không muốn ai lấy đi nhưng thuộc
địa béo bở của họ. Cho nên những
nguyên tắc dân tộc tự quyết mà Tổng
thống
Wilson
đề ra lại không ứng dụng vào hoàn cảnh
Việt
Nam
nên kiến nghị của Hồ chí Minh ( lúc ấy
là Nguyễn ái Quốc ) gửi đến cho Tổng
thống
Wilson
đă không mang lại kết quả ǵ. Mỹ dù
sao cũng là một nước tư bản nên Mỹ
phải bênh một nước tư bản khác là
Pháp chứ khó có thể bênh vực một nước
thuộc địa của Pháp là Việt
Nam
được.
Về sau này Bộ Phương
Đông của Liên xô( Cominterrn) đă nghĩ đến
chuyện t́m cách thành lập một tổ chức
Việt Nam để chống lại Pháp và Hồ
chí Minh là người được ủy nhiệm
làm công tác trọng đại này. Quốc tế Cộng
sản về sau nhận thấy Hồ không thành lập
một tổ chức chống Pháp theo ư Quốc tế
Vô sản muốn v́ tổ chức này nhuốm màu
sắc quốc gia quá nhiều. Trong thập niên
1920, Quốc tế Cộng sản tin tưởng Hồ
nhiều nhưng sang đến thập niên 1930 th́
không c̣n chú ư lưu tâm đến Hồ nhiều
v́ dưới mắt Quốc tế Cộng sản
Hồ đă lộ ra là có khuynh hướng quốc
gia và đó là điều Quốc tế Cộng sản
không thể chấp nhận.
Vào cuối thập niên
1930 có chuyện Mặt trận b́nh dân tham gia bầu
cử ở Pháp vào năm 1936. Có những biến
cố không xảy ra ở Việt
Nam
mà xảy ra tại Mạc tư khoa và
Paris
có ảnh hưởng đến t́nh h́nh chính trị
ở Việt
Nam
. Sau hội nghị Versailles được tổ chức
năm 1919, chủ thuyết của Đảng Cộng
sản Nga liên tục nhấn mạnh đến
chuyện lật đổ những chế độ
thực dân lúc bấy giờ, không phải chỉ
ở Pháp mà c̣n ở Đức, Anh và Ư nữa. Vào
thời bấy giờ, Phi châu bị những thế
lực Âu châu xâu xé, chia phần. Hầu hết
vùng Đông Nam Á châu cũng rơi vào t́nh cảnh tương
tự. Miến Điện là một thuộc địa
của Anh; Mă lai Á, Tân gia ba ( Singapore ), Hồng Kông
và phía Bắc Borneo ( sau này trở thành tỉnh
Sabah của Mă lai á ) cũng bị Anh chiếm. Nam
Dương ( Indonesia) là thuộc địa của
Ḥa Lan ( Netherlands).
Có một thời trong Đảng
Cộng sản Nga xô, không có sự liên kết
chính trị với thành phần “ quốc gia “
hay với những đảng không Cộng sản
nào khác trên thế giới. Đó là cái hoàn cảnh
mà Hồ chí Minh đang mắc phải thời bấy
giờ. Đảng Cộng sản Nga xô nỗ lực
lật đổ những chính quyền thuộc
địa đồng thời không muốn có chuyện
liên kết với những phong trào “ quốc gia”
ở những nước thuộc địa đó.
Chủ nghĩa quốc gia nồng nhiệt là
đường hướng mà Hồ đang theo
đuổi trong thời điểm này.
Vào một vài thời kỳ
trong thập niên 1930, Hồ không được cấp
lănh đạo Nga sô ở Mạc tư khoa sủng
ái v́ chủ nghĩa quốc gia trong con người
Hồ mạnh hơn chủ nghĩa Stalin, trong khi cuộc
thanh trừng của Stalin đang xảy ra trong Liên
Bang Xô viết. Hồ có vẻ không chú ư nhiều
đến những cuộc đấu đá, tranh
giành quyền lực xảy ra ở Mạc tư
khoa vào trong thập niên 1930. Hồ tập trung chú
ư đến Việt nam nhiều hơn.
Rồi đến cuộc
bầu cử ở Pháp năm 1936. Có một sự
liên hiệp giữa đảng Xă hội và đảng
Cộng sản đưa đến sự thắng
lợi đa số trong quốc hội Pháp. Nhưng
những ǵ xảy ra ở Pháp lại không giống
như những ǵ đang xảy ra ở Việt Nam
mà tùy thuộc vào những ǵ đang xảy ra bên
kia biên giới Pháp, đó là ở nước Đức.
Chế độ Phát xít ngày càng trở nên hung hăng,
gây hấn. Một cuộc chiến tranh với Đức
một lần nữa lại ló dạng ở cuối
chân trời.
Ở Mạc tư khoa cấp
lănh đạo của Đảng Cộng sản Nga
xô cũng có một kết luận tương tự
như vậy. Và cũng từ đó , Đảng Cộng
sản Nga sô không c̣n dị ứng khi hợp tác với
những thành phần “ quốc gia “ ở những
nước khác thuộc địa của Âu châu,
mục đích trước mắt là cần phải
hợp tác với nhau để chống bọn Phát
ốxít Đức. Có thể chuyện này xảy ra từ
năm 1936. Hồ chí Minh không c̣n bị thất sủng
nữa mà lại được cấp lănh đạo
Đảng Cộng sản Nga sô ở Mạc tư
khoa ưu ái chú ư trở lại.
Một sự kiện quan
trọng nữa là cấp lănh đạo Sô viết
kư một hiệp ước “ bất tương
xâm “ với Phát xít Đức vào tháng 8 năm 1939.
Coi như khoảng thời gian từ năm 1936
đến năm 1939, cấp lănh đạo ở Mạc
tư khoa đă đổi thái độ từ sự
chống đối thù địch với những
đảng chính trị không Cộng sản sang
thái độ hợp tác với bất cứ đảng
chính trị nào chiến đấu chống Phát
xít Đức. Đó là lúc Hồ chí Minh lại
được cấp lănh đạo Đảng
ở Mạc tư khoa sủng ái trở lại. Sau
khi kư hiệp ước “ bất tương xâm
“ năm 1939 với Phát xít Đức, Nga sô đă
làm cho t́nh h́nh rắc rối thêm bằng cách kư một
hiệp ước “ bất tương xâm “ với
Thiên Hoàng Nhật Bản vào tháng 4 năm 1942, độ
chừng một năm sau khi Phát xít Đức tấn
công vào Pháp. Lư do có thể giải thích cho chuyện
làm của Nga xô là họ cần dồn mọi nỗ
lực để chiến đấu ở biên giới
phía Tây của đất nước họ.
Về t́nh h́nh Việt
Nam lại càng phức tạp hơn. Hồ chí Minh
lúc ấy đang
thi hành một nhiệm vụ
của Borodin giao phó ở Thượng Hải. Những
năm cuối của thập niên 1930 th́ t́nh h́nh
chính trị của Việt Nam và Trung Hoa rối rắm
không thể tưởng tượng. Hồ chí Minh
đă làm được việc ǵ ích lợi cho
cách mạng Việt Nam trong khi thi hành công tác cho
Borodin ở Thượng Hải th́ lịch sử
không ghi lại sự kiện ǵ cụ thể.
Một điểm nữa
cần nói thêm là Hồ chí Minh dính líu với Đảng
Cộng sản Pháp ngay từ những ngày đầu.
Hồ chí Minh là một trong những sáng lập
viên của Đảng vào tháng 12 năm 1920. Từ
đó Hồ tham dự những hội nghị tổ
chức ở Liên xô trong thập niên 1920 thảo luận
về vấn đề “ quốc gia” . Hồ bị
Đảng Cộng sản Nga xô lơ là không quan tâm
đến trong suốt thập niên 1930, nhưng rồi
Hồ được chú ư trở lại khi Đảng
Cộng sản Nga thay đổi lập trường,
chấp nhận hợp tác với những đảng
phái chính trị không Cộng sản để chống
lại Phát xít Đức. Chuyện này diễn ra từ
năm 1936 đến năm 1939.
Ngày 7 tháng 12 năm 1941,
Nhật tấn công Mỹ tại Trân Châu Cảng.
Mục tiêu thứ nhất của Mỹ là đánh
bại Phát- xít Đức, mục tiêu thứ hai là
đánh bại quân đội Thiên Hoàng Nhật
ở vùng Thái B́nh Dương. Mục tiêu chính trị
và quân sự của Mỹ cũng chính là mục
tiêu chính trị và quân sự của Hồ chí
Minh. Nên nhớ năm tổ chức Việt Minh
được thành lập là năm 1941,coi như
trùng với năm Nhật tấn công Mỹ tại
Trân Châu Cảng và đây có thể không phải
là một sự t́nh cờ mà là một sự phối
hợp nhịp nhàng giữa Hồ chí Minh và Mỹ.
Nên nhớ là Hồ chí Minh đă có một sự
quan hệ mật thiết
với cơ quan t́nh báo
OSS của Mỹ trong thời gian này. ( OSS là tiền
thân của CIA). Tổ chức Việt Minh của Hồ
chí Minh cũng đă lập công cứu những phi
cơ Mỹ bị bắn rơi trong khi thi hành phi vụ
chống quân đội Thiên Hoàng Nhật Bản,
điều đó cho thấy Hồ chí Minh đă hợp
tác chặt chẽ với Mỹ trong Thế chiến
thứ hai. Rồi đến chuyện Hồ chí
Minh có trích dẫn Hiến Pháp Mỹ trong Tuyên Ngôn
Độc Lập đọc ngày 2 tháng 9 năm 1945 tại
Hà nội đă cho thấy sự liên hệ khắng
khít giữa Hồ chí Minh và người Mỹ.
Liệu sự hợp tác
quân sự của Hồ chí Minh và Mỹ trong Thế
chiến thứ 2 có làm cho Đảng Cộng sản
Nga xô ở Mạc tư khoa thay đổi cách nh́n
đối với con người Hồ chí Minh hay
không ? Trong giai đoạn này Hồ chí Minh có bày tỏ
lập trường ǵ để từ bỏ
tư cách hội viên đă có từ lâu trong Đảng
Cộng sản Pháp hay không? Liệu những hành
động của Hồ chí Minh trong suốt Thế
chiến 2 không chỉ là chuyện mở rộng
liên minh giữa Mỹ và Liên xô mà thôi? Sự liên
hệ chính trị của Hồ chí Minh với Đảng
Cộng sản Pháp thay đổi có phải v́ những
biến cố xảy ra trong năm 1941? Ngược
lại có thể nào nói tư thế chính trị của
Hồ chí Minh đối với Đảng Cộng sản
Nga xô được nâng lên v́ những hành động
của ông đă làm trong Thế chiến thứ 2
hay không?
Thật ra những câu
chuyện cũ về việc Hồ chí Minh hợp
tác với Mỹ không có ǵ nổi bật so với
t́nh h́nh thay đổi ngoạn mục lúc bấy
giờ, trước sự hiếu chiến xâm lăng
của Phát-xít Đức và Thiên Hoàng Nhật. Phải
nhận thấy rằng lúc này mục tiêu chính trị
và quân sự của những phe Mỹ, Nga xô, Đảng
Cộng sản Pháp và cả chính bản thân Hồ
chí Minh trùng hợp với nhau. Rơ ràng có một cuộc
chiến chống Nhật và Đức. Hồ chí Minh
t́nh nguyện chiến đấu chống hai nước
này, đồng thời có nhiều viên chức Mỹ
khám phá ra người Việt Nam là một loại
người duyên dáng, có phẩm giá và hấp dẫn
không thể t́m thấy ở những nơi khác
trên thế giới. Đây không phải là lần
đầu tiên những người lính Mỹ khám
phá ra khía cạnh này. Trong những ngày này, chính những
sinh viên Mỹ đă khám phá ra điều đó.
Thật ra, đường
lối chính trị của Đảng Cộng sản
Pháp và Nga thay đổi vào cuối Thế chiến
thứ 2, và Hồ chí Minh đă là người
đáp ứng mọi yêu cầu lúc đó. Bất
th́nh ĺnh, những ngày u ám xấu xa cũ của
thập niên 1920 lại trở lại vào năm
1946. Nó diễn ra lúc đầu không phải ở
Việt Nam mà ở Âu châu. Cuộc chiến tranh lạnh
giữa Tư bản và Cộng sản xảy ra có
lẽ từ sự phong tỏa của Liên xô tại
Berlin.
Tổng thống Mỹ 4
nhiệm kỳ Roosevelt mất năm 1944, trước
khi Thế chiến thứ 2 chấm dứt. Phó Tổng
thống Truman lên kế vị. Và diễn biến
chính trị xảy ra không phải ở Việt Nam
mà ở Âu châu. Cuộc “ chiến tranh lạnh “
và đường lối chính trị mới của
Đảng Cộng sản Nga và Pháp xảy ra đầu
tiên không phải ở Việt Nam mà ở Đức.
Đường lối “ quốc gia” cũ của Đảng
Cộng sản Nga và Pháp đề ra từ năm
1936 đến 1939, một lần nữa trở về
chính sách cũ của thập niên 1920, đó là
chính sách không hợp tác với những đảng
phái không Cộng sản. Có nhiều sự ly khai
ở nước Đông Đức cũ vào những năm
1944 hay 1945, trong khi quân đội Liên xô tiến
vào nước Đức. Những người không Cộng
sản sẽ không được tha thứ. Không
biết vào thời điểm nào người Mỹ
ư thức được những ǵ đang thực
sự xảy ra ở nước Đông Đức cũ
hay không?
Đó là lúc Tổng thống
Truman nhập cuộc. Hội Nghị Berlin được
tổ chức vào cuối năm 1945. Tổng thống
Truman có mặt ở đó để gặp Stalin của
Nga xô. Vấn đề quân Nhật c̣n ở lại
Việt Nam được nêu lên, và c̣n nhiều
câu hỏi khác được đặt ra khi Thế
chiến 2 đang đi vào giai đoạn cuối.
Ở Việt Nam vào hai năm 1945 và 1946, quân Pháp trở
lại thuộc địa cũ Việt Nam. Chính phủ
Truman quan sát với sự dè dặt những biến
cố đang xảy ra ở Việt Nam cũng
như tại Âu châu để Mỹ có thể
đưa ra những hành động thích ứng.
Lịch sử ở Việt
Nam sẽ đổi khác rất nhiều nếu
chính phủ Truman nghe theo lời kêu gọi độc
lập cho Việt Nam từ Pháp của Hồ chí
Minh. Liệu chính phủ Truman có ủng hộ cho
Pháp đem quân trở lại Việt Nam vào cuối
Thế chiến thứ 2 hay không? Liệu cuộc
“ chiến đấu chống Cộng sản “ trở
nên thông thường vào năm 1946 có giống thời
kỳ của thập niên 1920 hay không?
Nhà báo Stanley Karnov có
đề cập về chuyện Hồ chí Minh kêu
gọi Tổng thống Wilson về nền độc
lập Việt Nam và đường lối ngoại
giao của Tổng thống Truman đối với
chính phủ Việt Minh của Hồ chí Minh trong cuốn
sách “ Lịch sử Việt Nam “ ( Vietnam, a history
) của ông như sau:
“ Khi Hồ đọc
Tuyên ngôn độc lập vào ngày 2 tháng 9 năm
1945 tại Hà Nội, bản tuyên ngôn độc lập
này có mượn vài đoạn trong Tuyên ngôn
độc lập của nước Mỹ. Dù ông
ta đă kêu gọi một cách vô vọng với Tổng
thống Woodrow Wilson một thập niên trước
đó, ông tin rằng ông có thể cố gắng một
lần nữa để thuyết phục nước
Mỹ chứng giám cho lư do kêu gọi của ông.
Khi nh́n lại ai cũng thấy có cái ǵ đó nghịch
lư khi một người Cộng sản chuyên chính
như Hồ chí Minh, dính líu sâu đậm đến
chiến lược toàn cầu của Liên xô lại
hy vọng được Mỹ hỗ trợ.
Nhưng bản chất Hồ là một con người
thực tế, tâm tư chủ yếu là luôn trăn
trở về chuyện giải phóng Việt Nam.
Trong khi không bao giờ quên mục tiêu tối hậu,
ông thường thay đổi chiến thuật
để phù hợp với những t́nh thế biến
chuyển. Hơn nữa, vào thời điểm
đó cuộc chiến tranh lạnh chưa đến
nỗi làm phân cực thế giới giữa Mỹ
và Liên xô.
Mỹ có thể khuyến
khích Hồ một cách hợp lư là Hồ nên noi gương
Thống chế Marshal Tito, là nhà lănh đạo Cộng
sản Nam Tư ( Yugoslavia) trở thành người
chống lại Mạc tư khoa không lâu sau đó.
Nhưng những nhà chiến lược Mỹ trong
Thế chiến thứ 2 nh́n Đông Dương dưới
một con mắt phiến diện, một phân cảnh
đối với những kịch bản Á châu
chính ở Trung Hoa và vùng Thái b́nh dương. Sau
đó, khi những thái độ chính trị của
viên chức Mỹ trở nên già giặn hơn, họ
được hướng dẫn bởi hai yếu
tố : Chuyện Mỹ đồng minh với Pháp,
mà số phận cho thấy đó là điều
quan trọng đối với tương lai bất
định của Tây Âu; và chuyện Trung Hoa rơi
vào tay Cộng sản, để từ đó nẩy
sinh ra chính sách ngoại giao “ ngăn chận “ với
âm mưu ngăn chận những ǵ có vẻ như
là sự mở rộng của chủ nghĩa Cộng
sản. Trong khung cảnh t́nh h́nh hồi ấy , Mỹ
không thích bảo trợ cho Hồ, vốn là một
người Cộng sản kỳ cựu chống
Pháp. V́ vậy hai thập niên trước khi quyết
tâm đem quân chiến đấu ở vùng này, Mỹ
đă bắt đầu sa lầy ở Việt Nam.
Hồ phấn khởi nhiều
bởi Hiến chương Atlantic, được
đưa ra vào mùa hè năm 1941, trong đó Tổng
thống Franklin D. Roosevelt và Thủ tướng Anh
Winston Churchill hạ quyết tâm, “ nh́n thấy chủ
quyền và quyền tự quyết được
dành cho những kẻ bị tước đoạt
những quyền ấy”. Churchill vốn vẫn lo
duy tŕ đế quốc Anh, rơ ràng coi tuyên bố
này là thứ cường điệu lư tưởng
mà thôi. Vị trí của Roosevelt cũng không hoàn
toàn vô tư, dù ông có thành tích chống thực
dân. Ngay cả khi khi tập trung chú ư đến phạm
vi Đông Dương, ông cũng phân vân khó quyết
đoán được điều ǵ.
Năm 1941, với hy vọng
làm phấn chấn thêm Tướng Charles de Gaulle
trong trận chiến giải phóng nước Pháp
chống lại bọn Đức, Roosevelt hứa là sẽ
tôn trọng quyền thống trị của Pháp
ở nước ngoài sau trận chiến. Nhưng
năm sau, ông nói với đứa con trai tên Elliott
của ông là ông sẽ “ làm việc hết sức
ḿnh “ để chống lại bất cứ kế
hoạch nào để “ mở rộng thêm tham vọng
bành trướng đế quốc của Pháp.” Một
năm sau đó nữa, ông đề nghị một
ủy ban quốc tế để cho Đông Dương
thời hậu chiến, ông nói rằng Pháp “
đă vắt sữa nó cả trăm năm rồi
“ và để cho dân bản xứ “ tệ hại
c̣n hơn lúc ban đầu “ . Ông c̣n bổ túc ư
kiến này về sau, đề nghị rằng Pháp
có thể tái sở hữu lănh thổ bằng cách
cam kết cuối cùng sẽ cho nó được
độc lập. Và năm 1945, ông đề nghị
giao Đông Dương cho Thống chế Tưởng
giới Thạch vốn là một người lănh
đạo Trung Hoa quốc gia, nhưng Tưởng lịch
sự từ chối món quà ấy trên căn bản
là người Đông Dương “ không thể
đồng hóa vào với người Trung Hoa “ .
Sự không thống nhất
rơ ràng của Tổng thống Roosevelt bắt nguồn
một phần từ cách thực hành nói ra những
suy nghĩ của ḿnh khi chúng nảy ra trong đầu
ông trước sự hiện diện của những
du khách, đó là một thứ dụng cụ ông
dùng để thử nghiệm những ư tưởng
của ông. Nhưng căn bản là ông quá quan tâm
đến những vấn đề lớn hơn
trong Thế chiến thứ 2 để có thể tập
trung chú ư đến chuyện Đông Dương quá
xa xôi. Vào ngày 1 tháng 1 năm 1945, chừng 3 tháng trước
khi ông qua đời, ông nói với Bộ trưởng
ngoại giao Edward R.Stettinius như sau, “ Tôi vẫn
không muốn dính dáng vào bất cứ quyết
định nào về Đông Dương.. Hành động
trong lúc này là quá sớm.”
Tại bộ ngoại
giao, những thư báo cho thấy có những chiều
hướng đối ngược nhau. Tố cáo
đường lối cai trị thực dân của
Pháp như là “ thiếu sự hài ḷng nhất “
ở Á châu, phân ban Viễn Đông thúc giục cần
phải tạo áp lực lên Pháp để ban cho
Đông Dương “ quyền cai trị tự trị
thực sự “ hay sẽ phải có đâu đó
“ máu đổ và bất ổn trong nhiều năm,
đe dọa sự phát triển kinh tế và xă hội
“ của khu vực. Đúng như dự đoán là
những chuyên viên gốc Âu châu trong bộ sẽ
bênh vực cho người anh em Pháp của ḿnh, họ
cảnh báo chống đối bất cứ biện
pháp nào mà có thể gây “ kết quả tai hại
đến những quan hệ của Mỹ và chính
phủ cùng nhân dân Pháp.”
Nhân tố Âu châu thắng
lợi. Vào tháng 5 năm 1945, không lâu sau khi Tổng
thống Harry Truman lên nắm chính quyền sau cái chết
của Roosevelt, Ngoại trưởng Mỹ Stettinius
trấn an Ngoại trưởng Pháp George Bidault rằng
Mỹ công nhận sự thỉnh cầu của
Pháp về Đông Dương. Truman hy vọng Pháp sẽ
giải phóng luật lệ của họ, và người
Mỹ được nhắc lại rằng niềm
hy vọng sẽ là những năm trước mặt.
Nhưng người Pháp không bao giờ tạo ra
cái ǵ hơn là vẻ bên ngoài hời hợt của
sự tự trị trong thuộc địa của
họ. Vào năm 1954, khi thấy cuộc chiến
tranh Đông Dương là một cuộc chiến
đấu chống lại chủ nghĩa Cộng sản
toàn cầu, Mỹ đă bỏ ra 2.5 tỷ để
tiếp máu cho nỗ lực quân sự vô vọng của
Pháp ố số tiền này c̣n nhiều hơn là
tiền Pháp nhận trong kế hoạch Marshall của
Mỹờ để tái xây dựng lại nền
kinh tế hậu chiến tan nát .
( Trích từ sách “ Viet
Nam, a history “ của Stanley Karnov trang 135-137)
Trong một bài viết
khác ngày 27 tháng 4 năm 2000 , kư giả Karnov cho rằng
sau Thế chiến 2, khi Pháp t́m cách lấy lại
thuộc địa cũ Việt Nam, Hồ chí Minh
đă viết thư cho Tổng thống Truman yêu cầu
được giúp đỡ. Nhưng Tổng thống
Truman và Tổng thống kế tiếp Dwight D.
Eisenhower đă thay v́ giúp Hồ chí Minh th́ lại
đi ủng hộ Pháp, để rồi mục
đích vô vọng bị vỡ tan năm 1954, khi
đội quân thô sơ của Hồ đánh tan
quân đội đồn trú của Pháp ở Điện
Biên Phủ.
Một chuyện nữa cũng
nên ghi nhận ở đây là vào năm 1950, Trung Cộng
và Liên Xô công nhận chính phủ Hồ chí Minh. Để
trả đủa theo kiểu dằn mặt, chính
phủ Truman công nhận chính phủ quốc gia do
vua Bảo Đại cầm đầu và coi như Mỹ
và chính phủ Hồ chí Minh ngày càng có hố sâu
ngăn cách để rồi dẫn đến chuyện
đối đầu nhau trong thập niên 1960 và
1970.
Vào lúc này Hồ mong là sẽ
chiếm được toàn cơi Việt Nam, nhưng
ông bị phe Trung Cộng và Nga xô ép buộc phải
chia đôi đất nước thành hai miền
là miền Bắc và miền Nam. Thủ tướng
Phạm văn Đồng đă nói riêng với phóng
viên Karnov năm 1981 như sau, “ Chúng tôi bị những
đồng chí của chúng tôi phản bội. “ Một
cuộc tổng tuyển cử được dự
tính là sẽ tổ chức vào năm 1956 để
quyết định số phận của quốc
gia, nhưng phía Nam Việt Nam hủy bỏ cuộc
bầu cử khi thấy rơ ràng là phe Cộng sản
sẽ thắng cuộc tổng tuyển cử này.
Hồ chí Minh cảm thấy bực bội và quyết
định theo đuổi kế hoạch nổi dậy.
Karnov cho Hồ không phải
là loại người tay sai cho những cấp lănh
đạo Cộng sản Nga hay Tàu cao cấp. Vào
tháng 8 năm 1945, khi Hồ tuyên bố độc lập
cho Việt Nam, ông ta có trích đọc một phần
Tuyên ngôn độc lập Mỹ ngay trước
nhà hát Hà Nội. Ngay từ trước đó, khi
ông thành lập chính phủ lâm thời ở trong rừng
năm 1950, ông yêu cầu Thống chế Marshal Tito
của Nam Tư công nhận chính phủ của
ông, trong khi nước Nam Tư ( Yugoslavia) v́ chính
sách không hợp tác với Mạc tư khoa đă
làm cho Stalin coi Tito như kẻ thù số một. Đối
với Trung Cộng mối quan hệ với Việt
Nam được coi như thù hận. Cái ư tưởng
cho rằng Cộng sản Việt Nam đi theo
đường lối của Trung Cộng là phi
lư. Nhưng phải thấy một điều là Cộng
sản Việt Nam đă theo lời Trung Cộng mà
làm cuộc cải cách ruộng đất long trời
lở đất, giết đi hàng ngàn dân Việt
Nam vô tội. Phải nói người không nghe lời
Trung Cộng là Lê Duẩn chứ không phải Hồ
chí Minh. Trung Cộng đă tỏ ư không muốn Việt
Cộng chiến thắng ở miền Nam nhưng Lê
Duẩn bất chấp áp lực đó mà tiến
hành cuộc chiến tranh ở miền Nam cho đến
ngày toàn thắng. Lê Duẩn là người chống
Trung Cộng ra mặt chứ không như Hồ chí
Minh, t́m cách đi dây giữa hai đàn anh Nga, Tàu
để đem lại quyền lợi cho Đảng
Cộng sản Việt Nam.
Nói tóm lại Mỹ và Bắc
Việt Nam đă đánh một cuộc chiến
cay đắng với nhau trong thập niên 1960 và
1970, trong đó có chừng 3 triệu người Việt
Nam ở cả hai miền Nam Bắc và gần 60000
người Mỹ thiệt mạng.Nhiều sử
gia cho rằng cuộc chiến này có thể tránh
được nếu những sự thông tin giữa
người lănh đạo Việt Nam là Hồ chí
Minh và Tổng thống Mỹ Harry Truman tốt đẹp
hơn trong những năm cuối của thập niên
1940 và đầu thập niên 1950. Phóng viên đài
Voa là Max Ruston có làm một bản tường tŕnh
từ New York nói về một việc mà các sử
gia ngày nay gọi là “ cơ hội bỏ lỡ”
của cuộc chiến tranh Việt Nam.
Một nhóm viên chức
quân sự Mỹ và Việt Nam mới gặp nhau
ở New York ( 1997) để thảo luận về
những ǵ đă xảy ra trong những năm
trước cuộc chiến ở Việt Nam. Đó
là thời gian gần cuối Thế chiến thứ
2, thời gian này đă ghi lại sự hợp tác
không chính thức giữa Mỹ và lực lượng
Việt Minh của Việt Nam. Cả hai phía đều
chia sẻ chung một mục tiêu chung: Đánh bại
những lực lượng của Nhật ở
Đông Dương.
Những cuộc thảo
luận mới đây giữa những viên chức
t́nh báo tuổi tác về hưu đă nhanh chóng
chú ư đến nhà lănh đạo cách mạng Hồ
chí Minh sau này, là người cuối cùng dẫn
quân đội của ông đến chiến thắng.
Cựu viên chức t́nh
báo Mỹ Frank Tan đă làm việc với Hồ
chí Minh trong trận chiến chống lại quân
đội Nhật đă cho biết như sau,”
“ Khi tôi rời Việt
Nam vào năm 1945, Hồ chí Minh có đưa cho tôi
một lá thư, đó là một lá thư ngắn
viết tay. Đó là một
cảm nghĩ mà ông đă bày tỏ nhiều lần,
đó là lời thỉnh nguyện xin Mỹ giúp
đỡ.
Khi quân đội Nhật
hoàn toàn đầu hàng, Hồ chí Minh xin được
giúp đỡ để ngăn chận Pháp tái thiết
lập lại sự cai trị thực dân trên toàn
cơi Việt Nam.
Ông Frank Tan gửi lá thư
này đi đến những viên chức t́nh báo
quân sự ở Mỹ, đề tên người
nhận là Tổng thống Harry Truman.Sau đó ông hỏi
một người đồng sự về chuyện
lá thư đă đi đến đâu rồi. Người
đồng sự nói với ông Frank Tan,” Này anh bạn
Frank, cảm giác bây giờ ở Washington là rất
muốn làm việc với người Pháp chứ
không muốn làm mất ḷng Pháp, không có cái ǵ có
thể hay sẽ xảy ra đâu.” Và v́ thế
tôi mới gọi là cơ hội bị bỏ lỡ.
Nhiều viên chức t́nh
báo khác ước lượng rằng Hồ chí
Minh viết ít nhất cả tá lá thư đến
Tổng thống Truman. Trong vài lá thư, ông yêu cầu
xin được trợ giúp về canh nông. Trong những
lá khác ông yêu cầu Mỹ không ủng hộ Pháp
đang nỗ lực thiết lập lại sự
kiểm soát trong vùng.
Nguyen kim Hung là người
cầm đầu phe Việt Minh hợp tác với
những viên chức t́nh báo Mỹ hồi bấy
giờ đă phát biểu như sau trong buổi hội
thảo ( thông qua một thông dịch viên ):
“ Tôi biết chuyện Hồ
chí Minh đang yêu cầu sự giúp đỡ từ
Mỹ. Nhưng vào thời
điểm đó chúng tôi không có cách nào biết
được tại sao không có sự hồi âm
nào từ phía chính phủ Mỹ. Tôi nghĩ câu trả
lời cho câu hỏi “ Tại sao?” sẽ là một
đề tài cho những sử gia nhiều thế
hệ sau nghiên cứu. “
Những sử gia Mỹ
nói họ tin là không có lá thư nào trong những
lá thư kể trên lại đến tay Tổng thống
Truman hay người nào khác ở những cấp
cao nhất của chính phủ Mỹ. Hơn nữa,
họ nói những yêu cầu của Hồ chí Minh
bị coi là không thuận tiện, v́ Washington không
muốn làm mất ḷng Pháp và thấy không thâu lượm
được ǵ từ chuyện hỗ trợ cho
chủ nghĩa quốc gia Việt Nam.
Hồ chí Minh sau đó mới
liên hệ bản thân ông với Liên xô như lời
giải thích của cựu viên chức t́nh báo Mỹ
Charles Fenn như sau:
“ Tôi nghĩ thật là
có ích để hiểu tại sao Hồ là người
Cộng sản. Tham vọng của ông là làm sao cho
quốc gia ông được giải phóng khỏi
tay người Pháp. Đó thực sự là mục
tiêu duy nhất của ông, và phe duy nhất giúp ông
ta là Liên xô. Ông đă đi qua nhiều quốc gia
khác nhau.. Pháp, Anh, Mỹ.. Ông đă đi xa tới
Mỹ khi ông chỉ là người phụ bếp
trên tàu.. nhưng không chỗ nào giúp ông được
ǵ. Nhưng những người xă hội Pháp
đề nghị ông nên đến gơ cửa Stalin
và Stalin sẽ giúp ông. Nhưng dĩ nhiên Stalin ra
điều kiện là chỉ giúp Hồ nếu Hồ
là người Cộng sản và phải là người
Cộng sản chuyên chính thuần thành.
Sau đó Hồ chí Minh
lănh đạo dân quân đánh các lực lượng
Pháp. Quân đội Mỹ nhảy vào kế tiếp.
Quân Mỹ và quân Cộng sản Việt Nam giao chiến
toàn diện vào giữa thập niên 1960 và không chấm
dứt cho đến khi Mỹ rút toàn bộ lực
lượng ra khỏi miền Nam vào năm 1973.
Nhiều viên chức t́nh
báo Mỹ đă từng làm việc Hồ chí minh
trong thập niên 1940 bây giờ bày tỏ sự hối
tiếc là đă không làm việc nhiều hơn
để thiết lập vài tầng lớp hợp
tác giữa Việt Minh và chính phủ Mỹ. Tại
cuộc gặp gỡ ở New York, họ nhắc lại
về sự chú ư mạnh mẽ của cá nhân Hồ
chí Minh dối với lịch sử nước Mỹ.
Họ kể lại có đôi lúc Hồ bày tỏ
sự ngưỡng mộ về chuyện Mỹ tuyên
bố độc lập và vị Tổng thống
thứ 16 của Mỹ là Abraham Lincoln.
Viên chức t́nh báo Mỹ
Ray Grelecki là một trong những nhân viên t́nh báo chứng
kiến sự yêu thích nước Mỹ của Hồ
chí Minh . Ông Ray Grelecki nói:
Mỹ trong một phương
cách nào “ Nếu tôi được yêu cầu
để đưa ra một sự đánh giá th́
Hồ chí Minh nh́n nước Mỹ như là là một
người mới, lớn và thành thật trong
đám đông. Và tôi
chợt cảm thấy ố tôi không có bằng chứng
ố tôi cảm thấy ông Hồ muốn làm việc
với đó.”
Ông Grelecki và những cựu
chiến binh Việt Nam và những bạn Mỹ cũ
đă đàm đạo tại hội quán Asia
Society ở New York. Những lời hồi tưởng
của họ sẽ được ghi chép và in
thành sách như là một đề án lịch sử
nói bằng miệng. Những người tham dự
nói họ hy vọng là những kinh nghiệm của
họ sẽ giúp Việt Nam và Mỹ xây dựng một
mối quan hệ gần gũi hơn trong
tương lai.
Ngày nay nh́n lại lịch
sử Việt Nam cận đại với 3 triệu
người Việt Nam đă chết trong chiến
tranh và Việt Nam bây giờ vẫn đắm ch́m
trong chủ nghĩa Mác- Lê lạc hậu, cản
đường cho sự tiến bộ, cấp lănh
đạo Đảng hiện nguyên h́nh là một bọn
bán nước buôn dân, th́ mới thấy cơ hội
Hồ chí Minh t́m cách liên lạc kêu gọi với
hai Tổng thống Wilson và Truman cho nền độc
lập Việt Nam bị rơi vào quên lăng là một
điều đáng tiếc vô cùng. Nếu Tổng
thống Wilson t́m cách nâng đỡ Hồ chí Minh
trong cuộc đấu tranh giành độc lập
th́ Việt Nam đă đi về một lối khác.
Nếu Tổng thống Roosevelt không mất vào năm
1944 mà sống thêm một năm nữa là sống
đến năm 1945 và có những biện pháp
giúp đỡ Hồ chí Minh th́ Hồ chí Minh đă
có thể không rơi vào quỹ đạo các nước
Cộng sản. Nếu Tổng thống Truman nhận
được mấy cái thư kêu cứu của
Hồ chí Minh và ra tay giúp đỡ Hồ và không
ủng hộ thực dân Pháp th́ t́nh thế Việt
Nam chắc là đă không diễn ra như đă diễn
ra.
Nếu Tổng thống
Kennedy không bị ám sát vào năm 1963 th́ t́nh h́nh
Việt Nam chắc chắn sẽ có sự thay đổi
lớn lao. Nếu Thượng nghị sĩ Robert
Kennedy ( một ứng cử viên sáng giá Tổng thống
của Đảng Dân Chủ ) không bị bắn chết
năm 1968 để c̣n sống và lên chức tổng
thống th́ t́nh h́nh chiến tranh sẽ được
giải quyết và Mỹ không đến nỗi bị
sa lầy ở Việt
Nam
. Nếu Tổng thống Nixon không bị vụ
x́-căng-đan Watergate đến nỗi phải từ
chức th́ có lẽ ông sẽ trả đũa quyết
liệt trong trận tấn công của Việt Cộng
năm 1975 th́ chưa chắc miền Nam đă mất
vào ngày 30 tháng 4 năm 1975. Nếu miền Nam không
có cấp lănh đạo tồi như Tổng thống
mặt trơ, trán bóng tham nhũng Nguyễn văn
Thiệu và Thủ tướng kiêm Phó tổng thống
tồi bại, nhảm nhí như Nguyễn cao Kỳ
th́ miền Nam không đến nỗi thua trận
cay chua và nhục nhă đến như vậy.
Ôi ! Lịch sử phải
chăng là một câu chuyện đầy rẫy những
chữ nếu.! Liệu những người c̣n nghĩ
đến quê hương đất nước Việt
Nam hôm nay có học hỏi được những
bài học xương máu, lỗi lầm mà những
người cầm quyền lănh đạo trước
đă đi hay không để làm hành trang lên
đường cứu nước và xây dựng
quê hương hay không ? Lịch sử đôi khi
là một sự lập lại nhưng không phải
lúc nào cũng như thế v́ hoàn cảnh và thời
thế mỗi thời mỗi khác. Nhưng có cái bất
di bất dịch đời nào cũng quư trọng
tôn vinh là tấm ḷng yêu nước, thương dân
của những hào kiệt trong những cuộc chiến
đấu cho quê hương, đất nước.
May mắn thay, trong thời
đại hôm nay người ta vẫn c̣n nh́n thấy
những tấm ḷng sắt son, những ư chí bất
khuất của những hào kiệt đáng quư
đó. Và nhờ quyết tâm và hành động của
những dũng sĩ thời đại này mà vận
nước sẽ qua thời kỳ tăm tối và
đi tới ánh sáng của b́nh minh.
Lawndale
, một tối đầu thu hiu hắt cuối tháng
9 năm 2004
TRẦN VIẾT ĐẠI HƯNG
Email: dalatogo@yahoo.com