HỒ CHÍ MINH LÀ CÁN BỘ
CỘNG SẢN CHUYÊN CHÍNH
HAY LÀ NGƯỜI ĐẤU TRANH CÓ TINH THẦN QUỐC
GIA?
Trong mấy mươi
năm qua, không ai c̣n nghi ngờ ǵ nữa về
chuyện Hồ chí Minh là ông tổ Cộng sản
ở Việt Nam, là người thành lập Đảng
Cộng sản Việt Nam và là cha đẻ của
nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa. Liệu
bây giờ đặt câu hỏi ông tổ Cộng
sản Việt Nam Hồ chí Minh có phải là một
người đấu tranh có tinh thần quốc
gia th́ đó có được coi là một nghi vấn
sai sự thật và nghịch lư quá hay không? Thật
ra, không phải ai khác mà chính là Stalin của Đảng
Cộng sản Liên xô là người đầu tiên
nghi ngờ Hồ chí Minh là một người
đấu tranh chính trị mang tinh thần quốc
gia chứ không phải là một cán bộ Cộng
sản chuyên chính và do đó quyết định
cho Hồ chí Minh ngồi chơi xơi nước
trong ṿng mấy năm liền. Chuyện này
được các sử gia và ngay cả Tổng
biên tập báo Nhân Dân là Hoàng Tùng ghi nhận. Cho
nên t́m hiểu yếu tố Cộng sản và
khuynh hướng quốc gia trong con người Hồ
chí Minh là một chuyện làm nghiêm chỉnh và minh
bạch giúp thế hệ sau có cái nh́n đúng
đắn hơn về con người chính trị
muôn mặt này.
Khi nói về cuộc
đời của Hồ chí Minh, những tài liệu
của Cộng sản ở Việt Nam thường
nhấn mạnh ông là “ một chiến sĩ kiên
cường giỏi giang của Quốc tế thứ
3 “ , riêng báo chí Liên xô xưng tụng ông là “
cán bộ trung kiên trung thành của Quốc tế
thứ 3 ( Cominternchik). Đây là danh hiệu duy nhất
dành cho một người Cộng sản trên toàn
Á châu. Hồ sau này có viết sách báo kể lại
rằng ông rất tâm đắc khi được
đọc về “ Luận cương về các vấn
đề dân tộc và thuộc địa “ nổi
tiếng của Lê nin trong khoảng thời gian từ
ngày 17/7 đến ngày 7/8/1920 và sau đó quyết
định bỏ Đảng Xă hội của Pháp,
cùng với vài người cấp tiến khác, quyết
định bỏ phiếu tán thành Quốc tế
thứ 3, rồi sau đó thành lập Đảng Cộng
sản Pháp, loại bỏ những đảng viên
xă hội ôn ḥa tại hội nghị Đảng vào
cuối năm 1920 tại Tours, Pháp. Quan trọng hơn
nữa, đó là ngày mà người công dân Việt
Nam
mang khuynh hướng quốc gia trở thành một
đảng viên của một Đảng Mác-xít, một
đảng vô tổ quốc. Nói như thế
cũng không có ǵ phản lại Mác v́ theo những
điều lệ của Quốc tế thứ 3, Liên
xô được coi như là quê cha của những
đảng viên xă hội.
Khi đọc luận
cương Lênin, Hồ nghĩ Lênin đă làm sáng
tỏ một chiến thuật Cộng sản trong
những lănh vực thuộc địa, có vẻ
như cung cấp những phương tiện tốt
nhất để giải phóng Việt Nam khỏi
ách thực dân của Pháp. Hồ chí Minh sau này có
kể lại cảm giác sung sướng tột cùng
khi đọc luận cương Lê nin nói trên và
ông đă nói lên cảm nghĩ trong tiếng khóc,
“ Ngồi một ḿnh trong pḥng mà tôi như đứng
trước đồng bào. Tôi
muốn hét to lên “ Hỡi đồng bào bị
đọa đày đau khổ. Đây là con
đường giải phóng cho chúng ta khỏi ách
nô lệ “.“ . Nhưng khi quyết định
tham gia vào Quốc tế thứ 3, Hồ phải rũ
bỏ tư tưởng quốc gia và phải tuân
hành những chiến lược đề ra của
Lê nin trước và sau khi Việt Nam được
giải phóng ra khỏi gông xiềng thực dân. Được
trang bị bởi đường lối Bôn se vích
của Lênin vốn đấu tranh cương quyết
không khoan nhượng với chủ nghĩa thực
dân toàn thế giới, Hồ tỏ ra có tài nghệ
tuyên truyền trong ṿng 2 năm khi ở trong nhóm cấp
tiến theo Quốc tế thứ 3. Nguyễn thế
Truyền cũng ở trong nhóm này nhưng bỏ nhóm
từ năm 1927. Nhóm này được triệu tập
vào tháng 3 năm 1921 và sau đó vào tháng 7 năm
1921 để lập nên “ Hội liên hiệp thuộc
địa “ thuộc Đảng Cộng sản Pháp,
cho ra đời tờ báo “ La Paria “ ( Người
cùng khổ ) ( ấn hành từ tháng 4 năm 1922
đến tháng 4 năm 1926) và Hồ là người
phát ngôn viên khéo léo cho nhóm này. Nhóm này nh́n Lênin
như là một người thầy, một người
lănh đạo. Khi nh́n Việt Nam dưới
lăng kính này, Hồ xem tất cả những người
không Cộng sản không đồng ư với ông
như là “ thứ tay sai của những tên đế
quốc “, tức là những tên bán nước. Từ
ngày đó, Hồ tuyên chiến không những với
phe thực dân mà với những người Việt
không đồng chính kiến với ông để
đạt cho được mục tiêu mà luận
cương Lênin đă đề ra.
Sự hành xử theo
đường lối chuyên chính vô sản và cá
tính không thỏa hiệp của Hồ đă làm
cho Mạc tư khoa chú ư và năm 1923, đă cho gọi
Hồ về Mạc tư khoa để làm việc
trong tổng hành dinh của Quốc tế cộng sản
( Comitern). Hồ tham dự những lơpÔ tuyên truyền
cổ động tại phân khoa người lao
động Đông phương của Học viện
Stalin, đây là một trung tâm huấn luyện cho
những nhà cách mạng của Thế giới thứ
ba. Chuyến đi này làm cho Hồ ngập sâu, thấm
đẫm hơn nữa vào chủ thuyết Mác
-Lê nin. Hồ ở đây hơn một năm
để học về chủ nghĩa. Và trong năm
1924, Hồ trở thành hội viên sáng lập của
tổ chức “ Nông dân thế giới “ và tham dự
Đại hội lần thứ 5 của Quốc tế
Cộng sản vào mùa hè năm 1924, đó cũng là
nơi ông đả kích những đồng chí người
Pháp v́ họ thất bại không tạo ra đủ
sự chú ư thích hợp cho vấn đề thuộc
địa. V́ vấn dề này, trung ương
đă khuyến khích cho sự thành lập của một
phong trào cách mạng Mác-xít ở Việt
Nam
: Hồ được chọn lựa làm chất
xúc tác. Có ǵ đă xảy ra sau khi ông bỏ ra hơn
một năm học tập chủ nghĩa Mác
ố Lê nin và những chiến thuật đẫm
máu ở Mạc tư khoa ? Đó là thời điểm
mà Nguyễn tất Thành trở thành một người
đảng viên Bôn se vích vững vàng hơn của
Quốc tế thứ 3, một tổ chức quốc
tế của phong trào Cộng sản.
Từ năm 1924 trở về
sau, Hồ trở thành một cán bộ cao cấp,
hữu hiệu và trung thành được Quốc
tế thứ 3 tin tưởng. Là một nhân viên của
Quốc tế Cộng sản, Hồ phải chấp
nhận những quan điểm, những mục tiêu
và những chiến thuật chiến lược của
Quốc tế thứ 3 một cách cẩn thận hơn,
và của Lênin là người thành lập ra Quốc
tế thứ 3 và là người đứng đầu
tổ chức này. Những mục tiêu của Quốc
tế thứ 3 bắt nguồn từ Lênin là t́m
cách tạo ra một cuộc cách mạng của
giai cấp vô sản, lật đổ và tiêu diệt
bọn tư bản và những người không Cộng
sản khắp thế giới bằng những nhăn
hiệu mà những người Cộng sản gán
cho họ. Những mục tiêu này là những điều
Lênin đ̣i hỏi và là những điều lệ
của Quốc tế thứ 3. Là một nhân viên của
Quốc tế Cộng sản , Hồ phải tuân
theo những nguyên tắc ấy. Thật ra không cần
phải ràng buộc ông với những luật
ấy v́ chính ông ta vui vẻ thi hành những luật
ấy để phục vụ tổ chức. Theo
cuốn sách “ Những mẩu chuyện về
đời hoạt động của Hồ chủ
tịch “ với cái tên giả Trần dân Tiên , Hồ
chí Minh cho biết “ Những ngày cũ ở Nga là
những ngày vui vẻ nhất trong cuộc đời
ông “.
Sau khi tốt nghiệp
vào khoảng mùa thu năm 1924, Hồ được
Quốc tế Cộng sản cử làm thông dịch
viên tiếng Tàu cho viên lănh sự người Nga là
Michael Borodin ( đây cũng chỉ là chức vụ
giả trang mà thôi ). Michael Borodin là một cán bộ
của Quốc tế Cộng sản và làm chức
vụ lănh sự Nga với chính phủ cách mạng
của Tôn dật Tiên ở Quảng Đông, Trung Hoa.
Đây là công tác đầu tiên của một cán bộ
chuyên nghiệp của phong trào Cộng sản quốc
tế. Sau khi tới Quảng Đông, Hồ tập hợp
những phần tử yêu nước và cấp tiến
Việt để lập nên tổ chức “ Việt
Nam Cách Mệnh Thanh Niên Hội “ , là tổ chức
tiền thân của Đảng Cộng sản Việt
Nam, vốn có khuynh hướng lôi kéo và khuyến
khích những người thanh niên Việt Nam quốc
gia trẻ tuổi vào trường vơ bị Hoàng Phố
để học tập về quân sự từ những
huấn luyện viên Liên xô. Hồ t́m cách lôi cuốn
hai thành phần : đưa chiêu bài quốc gia
để khuyến dụ những thanh niên trẻ
ngây thơ, và xây dựng một tổ hạt nhân
ṇng cốt có chừng 5 hay 6 hội viên trung thành với
chủ nghĩa Mác- Lênin. Ư định của Hồ
là dùng tổ hạt nhân ṇng cốt này làm thành phần
cán bộ chủ yếu cho Đảng Cộng sản
tương lai. Với sự tài trợ tiền bạc
từ Quốc tế Cộng sản, Hồ xây dựng
nên tổ chức với “ hai thành phần “ như
đă nói trên và lôi kéo khuyến dụ những người
quốc gia và từ từ chuyển biến họ
sang những cán bộ Cộng sản ṇng cốt.
Trong môi trường này,
Hồ bí mật tuyên truyền chủ nghĩa cộng
sản cho những người mới tập sự.
Tuy nhiên khuynh hướng của chủ nghĩa quốc
gia đă chiếm ưu thế đă là một sự
đe dọa cho mục tiêu của Hồ và làm chậm
kế hoạch của ông đi tới chủ
nghĩa cộng sản. Để truyền bá chủ
nghĩa Mác và lôi kéo họ, Hồ viết một
tập tài liệu có tên “ Đường Kách mệnh
“ giảng giải quan điểm của Lê nin,
nêu rơ rằng giai đoạn một là giành cho
được độc lập dân tộc và giai
đoạn hai là tiêu diệt chủ nghĩa tư
bản và thiết lập chủ nghĩa Cộng sản
trên toàn thế giới. Có nghĩa là con đường
thiết lập chủ nghĩa xă hội sẽ
được tiến hành ngay sau giành được
độc lập dân tộc. Nhiều người
tin vào Hồ nên trở về Việt
Nam
thành lập những tổ bí mật rồi tuyển
mộ và huấn luyện những thành viên mới;
hạt nhân của tổ chức Cộng sản lớn
mạnh dần lên và nhiều đảng viên
được đưa qua Mạc tư khoa học
tập và huấn luyện thêm. Số người
c̣n lại theo chủ nghĩa quốc gia khi về
nước bị chính quyền Pháp phản bội
hay lo ngại bị phản bội , đă gia nhập
quân đội Quốc dân đảng.
Hồ tiếp tục làm
công việc này cho đến năm 1927, là năm mà
Tưởng giới Thạch chia tay với phe Cộng
sản Tàu. Lúc ấy Hồ mang trong người một
giấy thông hành Liên xô, đă trốn về Liên
xô cùng chung với một phái đoàn Liên xô. Vài
tháng sau đó, Hồ được gửi về
vùng Đông Nam Á châu như là một đại biểu
chính thức của Quốc tế Cộng sản (
Comintern) và làm việc cho văn pḥng viễn đông
được bí mật thiết lập ở Thượng
Hải. Từ căn cứ địa này, Hồ nhận
nhiệm vụ đi đến vùng Đông Bắc
Thái Lan và ngụ ở làng Ban Dong để tái tổ
chức hạt nhân Cộng sản trong nhóm người
Việt lưu vong ở đây. Trong khoảng thời
gian từ tháng 8 năm 1928 đến tháng 4 năm
1930, Hồ thành lập Đảng Cộng sản Thái
có đa số hội viên là người Tàu và người
Việt, và đồng thời ông thành lập Đảng
Cộng sản Singapore vốn là tiền thân của
Đảng Cộng sản Mă lai á.
Vào tháng 12 năm 1929, Hồ
tái xuất hiện ở Hồng Kông với vai tṛ
là t́m cách kết nối, chuyển tải tiền,
bài vở và mệnh lệnh giữa văn pḥng Viễn
Đông của Quốc tế Cộng sản và những
Đảng Cộng sản ở Đông Dương, Thái
Lan, và Mă lai á. Tất cả những hoạt động
trên được Hồ báo cáo lại với văn
pḥng trung ương ở Mạc tư khoa. Trong khi
ở Thái Lan, Hồ được coi là đại
diện của Quốc tế Cộng sản
được 3 đảng Cộng sản ở Việt
Nam mời để làm công việc thống nhất
: ngày 3 tháng 2 năm 1930, Đảng Cộng sản Việt
Nam được thành lập ở Macao. Tuy nhiên
hành động kết hợp có vẻ “ đoàn
kết quốc gia “ này lại bị Mạc tư
khoa nghi ngờ và đă gửi mệnh lệnh yêu
cầu Hồ phải đổi tên thành Đảng Cộng
sản Đông Dương vào tháng 10 năm 1930 ở
Hồng Kông. Từ đó về sau, Hồ coi như
mất hết uy tín đối với ông chủ của
ông ở Mạc tư khoa.
Vào ngày 6 tháng 6 năm
1931, Hồ bị bắt ở khu Kow Loon ( Cửu
Long) ở Hồng Kông khi đang sống ở nhà vợ
của Hồ tùng Mậu tại địa chỉ
186 Tam Kaw. Hồ bị bắt không phải là chuyện
gian dâm bậy bạ với vợ bạn mà v́ cảnh
sát Anh nghi ngờ Hồ chính là Nguyễn ái Quốc,
một cán bộ Việt
Nam
của Quốc tế Cộng sản. Ṭa án chần
chừ xử măi cho đến ngày 28 tháng 12 năm
1932 là ngày Hồ được thả ra. Theo yêu cầu
của sự trục xuất, Hồ phải đi
tới Singapore nhưng Hồ t́m cách trở lại
Hồng Kông vào ngày 11 tháng 1 năm 1933. Hồ bị
cảnh sát Anh bắt lại vào ngày 21 tháng 1 năm
1933 và bị ra lệnh phải rời đảo
thuộc địa của Anh này. Hồ giả
trang làm một thương gia Tàu trong ṿng vài tháng
cho đến khi liên lạc được với
ông Paul Vaillant-Couturier và ông này giúp Hồ lên một
chiếc thuyền Liên xô ở Thượng Hải
và vào tháng 7 năm 1933 Hồ “ về nhà “ ở
bến Vladivostok, Nga xô. Dù t́m cách cứu Hồ khi
Hồ bị tù tội, Quốc tế Cộng sản
đă tạm thời loại trừ ông ra khỏi
tổ chức vào cuối năm 1933.
Những ǵ Hồ đă
làm trong 5 năm ( 1933-1938) tại Liên xô không
được ghi lại rơ ràng nhưng đây là
khoảng thời gian tệ hại nhất trong
đời hoạt động cách mạng của Hồ
như một cán bộ quốc tế v́ “ lỗi
lầm” như đă nói trên, nghĩa là Quốc tế
Cộng sản nghi ngờ Hồ đặt chủ
nghĩa quốc gia lên trên chủ nghĩa Cộng sản
trong khi hoạt động. Hồ hoàn toàn vắng
mặt tại Á châu trong khoảng thời gian từ
1933 đến 1938 và chỉ tái xuất hiện
ở Diên An năm 1938 để làm việc gần
gũi với Đảng Cộng sản Trung quốc.
Vào mùa đông năm 1940, Hồ được nh́n
thấy ở Côn Minh thuộc Vân
Nam
dưới cái tên Hồ Quang và đóng vai một
viên chức của quân đội Hồng quân Trung
quốc. Từ vị trí này, Hồ liên lạc với
Phùng chí Kiên, Hoàng văn Hoan, Vũ Anh để hồi
phục lại quyền lănh đạo từ nước
ngoài của Đảng Cộng sản Đông Dương.
Năm 1941, Hồ thực
sự bước chân lên đất Việt và tổ
chức Hội nghị lần thứ 8 của Đảng
Cộng sản Việt Nam tại Pắc Bó gần
biên giới Việt ố Hoa và chọn Trường
Chinh làm tổng bí thư cho đảng. Đồng thời
Hồ thành lập một tổ chức ngoại vi
lấy tên là Việt Minh ( viết tắt của Việt
Nam Độc Lập Đồng Minh), tập hợp những
tổ chức kháng chiến lănh đạo bởi
Cộng sản nhắm mục đích chống lại
quân Nhật.
Vào tháng 8 năm 1945, với
sự giúp đỡ của tổ chức t́nh báo
của Mỹ là OSS, thời gian này có nạn đói
xảy ra và chuyện Nhật đầu hàng sau khi
bị Mỹ dội hai trái bom nguyên tử, Việt
Minh nhanh chóng cướp chính quyền. Đây là lần
dầu tiên cái tên Hồ chí Minh được dùng
và Hồ trở thành chủ tịch của nước
Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa mới được
thành lập.
Vào ngày 6 tháng 3 năm
1946, Hồ kư Hiệp ước Sơ Bộ cho phép
Pháp trở lại Bắc Việt Nam. Hồ hợp
tác với Pháp để triệt hạ những thành
phần chống Pháp không Cộng sản và rồi
sau đó chiến tranh bùng nổ giữa Hồ và
Pháp. Cho đến khi Mao trạch Đông lên nắm
quyền lực ở Trung Hoa vào năm 1949, Hồ
liên lạc với phe Cộng sản Tàu từ những
vùng biên giới phía Bắc Việt Nam. Những
cán bộ của Mao huấn luyện và thành lập
ra những sư đoàn quân đội cho Hồ, cùng
viện trợ dồi dào và đồng thời những
cán bộ của Mao đă thiết lập guồng
máy cố vấn trong chính phủ của Hồ
trong khi giúp Hồ đánh đuổi Pháp ra khỏi
Bắc Việt Nam. Có ít nhất một sư đoàn
pháo binh của Hồng quân cùng chiến đấu
với quân đội Hồ ở Điện Biên Phủ.
Mỹ miễn cưỡng phải giúp Pháp từ năm
1951 v́ Mỹ cần Pháp trong mặt trận Âu
châu.
Rồi sau khi chiến thắng
ở Điện Biên Phủ với sự giúp đỡ
mạnh mẽ của Trung Cộng, Hồ chiếm
được một nửa nước Việt
Nam
là Bắc Việt
Nam
. Sau chiến dịch cải cách ruộng đất
tàn bạo trong 3 năm ( 1953-1956), Hồ lên tiếng
nhận có sai lầm và đưa ra biện pháp sửa
sai. Năm 1959, Lê Duẩn được cử giữ
chức vụ Tổng bí thư Đảng Cộng sản,
c̣n Hồ th́ trở về chức vụ Chủ tịch
nhà nước.
Sau cuộc Tổng tấn
công Mậu Thân năm 1968, Hồ trở nên đau
nặng hơn và cuối cùng đă qua đời vào
ngày 2 tháng 9 năm 1969. Tuy nhiên Lê Duẩn đợi
đến ngày 4 tháng 9 năm 1969 mới công bố
cái chết của Hồ với nhân dân miền Bắc.
Vào dịp kỷ niệm
sinh nhật thứ 70 Hồ chí Minh cho biết “ Từ
ban đầu, chính chủ nghĩa yêu nước
chứ không phải chủ nghĩa Cộng sản
đă khiến tôi tin vào Lê nin và Quốc tế thứ
3. Nhưng dần dần
tiến theo từng bước trong cuộc đấu
tranh, và phối hợp sự ứng dụng lư thuyết
chủ nghĩa Mác ố Lênin trong những hoạt
động cụ thể, tôi trở nên ư thức
rằng chủ nghĩa xă hội và chủ nghĩa
Cộng sản có khả năng giải phóng công
nhân và những người cùng khổ trên toàn thế
giới.
“
Ở Việt Nam cũng như ở Trung Hoa người
ta thường nói đến sự kỳ diệu
của cái cẩm nang thần kỳ; bất cứ
ai gặp phải vấn đề rối rắm th́
chỉ cần đơn giản mở cái túi cẩm
nang thần kỳ này ra là kiếm được
ngay cách giải quyết sẵn có. Đối với
cách mạng và nhân dân Việt Nam, chủ nghĩa Mác
_ Lênin không chỉ là cái cẩm nang thần kỳ
đó, hay cái la bàn chỉ phương hướng,
là một mặt trời thật sự chỉ lối
soi đường đến thắng lợi cuối
cùng là xây dựng chủ nghĩa xă hội và chủ
nghĩa Cộng sản. “
Rơ ràng là ngay từ đầu
Hồ chỉ xem chủ nghĩa Cộng sản
như là một phương tiện hữu ích tiện
lợi để đạt cho được cứu
cánh yêu nước, nhưng sau này ông thấm nhiễm
sâu đậm và chủ nghĩa Cộng sản trở
thành cứu cánh của ông. Trong những năm tháng
gần đây khi chủ nghĩa Cộng sản
đă sụp đổ hầu hết trên toàn thế
giới th́ những người cầm quyền
ở Việt Nam t́m cách bịt mắt dân chúng bằng
cách đề cao và kết hợp chủ nghĩa yêu
nước và chủ nghĩa Cộng sản của
Hồ chí Minh. Họ phải dùng hào quang của hồ
chí Minh để lấp liếm và bào chữa cho
những sai lầm nghiêm trọng mà chế độ
đang gặp phải .
Trong suốt cuộc đời
Hồ không có đóng góp ǵ thêm cho chủ nghĩa
Mác- Lênin mà chỉ thực hành nó . Ông tâm đắc
với hai điều căn bản trong chủ
nghĩa ấy như sau:
1)
Sự chuyên chính vô sản phải được
hoàn thành trong hai giai đoạn, đầu tiên là
cách mạng dân chủ tư sản và rồi cách
mạng xă hội chủ nghĩa.
2)
Chỉ có giai cấp công nhân mới được
cầm quyền lănh đạo cuộc cách mạng,
nông dân chỉ là đồng minh lâu dài mà thôi.
Hồ đánh giá chủ
nghĩa Lênin bằng nhiều nhận định khác
nhau. Năm 1926 Hồ cho chủ nghĩa Lênin là một
“ học thuyết đúng đắn “.Năm 1960
Hồ nhận xét chủ nghĩa này là một học
thuyết “ thêu hoa dệt gấm “, là “ vũ khí
không thay thế được “, là “ mặt trời
soi sáng chúng ta đi đến chiến thắng, chủ
nghĩa xă hội và chủ nghĩa Cộng sản
“ và đến năm 1962 th́ cho chủ nghĩa này
làm ṇng cốt “ trong mọi công tác cách mạng,
trong sự h́nh thành ra nhà nước cách mạng
và cũng tham gia xây dựng kinh tế và văn hóa,
chúng ta tất cả đều phải theo đúng
những con đường mà Lênin đă vạch
ra.”.
Hồ rất tàn nhẫn
khi theo đuổi những mục đích chính trị
của ông và thành công trong chuyện che dấu sự
cuồng tín của ḿnh sau cái h́nh dạng hiền
ḥa của Thánh Gandhi, cho nên ông tránh được
sự nguyền rủa mà người đời dành
cho Stalin và Hitler, dù Hồ cũng tàn ác trong chuyện
giết người không kém Stalin và Hitler. Ngay cả
nhà sử học Duiker cũng đánh giá Hồ là
“một nửa Lênin và một nửa Lênin” , nghĩa
là Hồ vừa tàn bạo, độc ác như Lê
nin, vừa thánh thiện hiền ḥa như Gandhi. Nói
như vậy để thấy Hồ đă thành
công trong chuyện làm cho người đời nh́n
ḿnh như một con người đạo đức,
hiền từ dù ông là con người sắt máu.
Có người cho rằng
Hồ chống Pháp là chống cho phe Cộng sản
chứ chưa chắc là v́ ḷng yêu nước.
Ông đă xây dựng một chế độ xă hội
theo cơ cấu bạo lực. Trong những năm
cuối thập niên 1969, nhà nghiên cứu chính trị
Na uy tên Johan Galtung đă viết một bài báo nhan
đề, “ Bạo lực, ḥa b́nh, và sự t́m
kiếm ḥa b́nh.” ( Trích trong tập san “ T́m kiếm
ḥa b́nh “, vol 6, no. 3, 1969 ) đă đưa ra một
cách nh́n mới trong lănh vực bang giao quốc tế.
Đó là ư niệm về cấu trúc bạo lực.
Theo đó, những người bị giết hay
thương tổn do những cơ cấu, hệ
thống, và cấu trúc chính trị xă hội bất
công đều là những nạn nhân của cấu
trúc bạo lực. Dù cấu trúc bạo lực
không làm hại nạn nhân một cách trực tiếp,
hậu quả thiết thực của nó vẫn
gây hệ quả hủy hoại tương tự
giống như bạo lực trực tiếp : Cấu
trúc bạo lực vẫn gây ra sự giết chóc
hay làm hại những nạn nhân của nó bằng
nhiều phương pháp c̣n hơn những hành vi
giết người thật sự.
Từ ư niệm về cấu
trúc bạo lực và giết người trực
tiếp, người ta có thể có một cái nh́n
về t́nh trạng thực sự của chế
độ Cộng sản Việt Nam và tiến
tŕnh phát triển của Đảng Cộng sản Việt
Nam để làm sáng tỏ vấn đề , “ Ai
là kẻ giết người xấu xa, đồi
bại “
“ Kết quả sự
thành công của nhân dân Việt Nam đều bắt
nguồn từ những tư tưởng Hồ chí
Minh “ ( Trích trong bài “ Những tư tưởng
cứu nước của Hồ chí Minh bắt nguồn
từ đâu? “ của Duc Vuong, tạp chí Cộng
sản, số 2 trang 33 năm 1993 ). Đó là lối suy
nghĩ của một cán bộ sử học cao cấp
dùng để ca tụng Hồ chí Minh và những
người kế tục ông đă để lại
một di sản tinh thần cho ba thế hệ
người Việt. Các cán bộ tuyên huấn thường
tuyên truyền rộng răi là công lao vĩ đại
nhất của Hồ chí Minh là mang lại sự
độc lập cho nhân dân Việt
Nam
. Nhưng loại độc lập mà nhân dân Việt
Nam
có hôm nay, nói theo nhà thơ Cộng sản Bùi minh
Quốc là “ một thứ độc lập không
có nghĩa lư ǵ cả “ ( Trích trong Đối thoại
số 3 năm 1994). Lư do rất đơn giản .
Quốc gia được độc lập
nhưng nhân dân mất tự do và có một cuộc
sống buồn thảm như khi đất nước
c̣n bị ngoại bang cai trị; bây giờ nhân
dân c̣n bị kiểm soát, tra tấn và tiêu diệt
c̣n dữ dội hơn ngày xưa.
Là người đi theo
Lênin, Hồ phải biết những hậu quả
đổ vỡ trên con người nhưng v́ quá
tin vào sự thần kỳ của chủ nghĩa Lênin
nên Hồ áp dụng chủ nghĩa này một cách
vội vàng thô bạo lên nhân dân Việt Nam.
Một cán bộ Cộng
sản lăo thành là Nguyễn Hộ đă nói như
sau trong bài “ Quan điểm và cuộc sống “
( Trích từ “ Đối Thoại “ số 3 năm
1994, trang 50) như sau:
“ Trên thực tế, chủ
nghĩa xă hội trong nhiều thế kỷ đă
bộc lộ ra bản chất của nó: quyền
độc đoán kinh tế và chính trị .. tước
đoạt mọi quyền tự do, biểu lộ
tư tưởng.. chế độ xă hội tồn
tại bằng cách dựa vào bạo lực . ( An
ninh nhân dân và quân đội là công cụ của
Đảng chứ không phải của nhân dân ). Đàn
áp, giam giữ, tù đày đối với ai không
theo Đảng. Thậm chí họ c̣n giết người
và gây nhiều tội ác kinh tởm dă man.. Rơ ràng
bàn chất độc tài về kinh tế và chính
trị đi ngược lại với luật tự
nhiên, và chủ nghĩa xă hội bản thân nó
đă giam hăm người Việt trong sự nghèo
đói liên tục “
Hồ rơ ràng là một
cán bộ cách mạng Cộng sản cuồng tín
và nồng nhiệt và là người đi theo Lênin
và Stalin. Chuyện ông chống Pháp và Mỹ v́ ḷng
yêu nước hay v́ làm nghĩa vụ cho quốc tế
vô sản chống tư bản đế quốc là
một vấn đề gây tranh luận và bàn căi.
Người ta khó có thể hiểu một người
yêu nước mà lại đi giết dân một
cách tàn bạo trong cuộc cải cách ruộng
đất ( 1953-1956) sau khi cuộc chiến chống
Pháp chấm dứt. Có người đưa ra con
số từ 15000 đến 100000 bị thiệt mạng.
Bernard Fall đưa ra con số 50000, không kể số
người nhiều gấp đôi bị
đưa vào “ những trại cải tạo “
và có chừng 11000 Đảng viên bị thanh trừng
và giết chết .Không có cách giải thích nào hơn
là Hồ đă làm chuyện tàn bạo này chỉ
v́ quá tôn thờ chủ nghĩa Lênin và Stalin. Chuyện
giết dân tàn bạo này không liên quan ǵ đến
nền độc lập của Việt
Nam
. Hồ luôn áp dụng chủ nghĩa Mác- Lênin một
cách máy móc và v́ thế đă gây ra nhiều tội
ác giết người mà chuyện giết người
hàng loạt trong cuộc cải cách ruộng đất
là thí dụ điển h́nh nhất. Có thể Hồ
đă quá lệ thuộc vào Liên xô và Trung Cộng
để rồi phải làm theo lệnh của
đàn anh giết dân ruột thịt của ḿnh.
Hay ông Hồ thuộc loại yêu nước chứ
không thương dân. Ông tranh đấu cho đất
nước được độc lập
nhưng sẵn sàng ra tay giết dân lành vô tội
v́ tôn thờ chủ nghĩa. Ông đồng hóa
ḷng yêu nước với chủ nghĩa xă hội
qua câu nói nông nổi của ông, “ Yêu nước
là yêu chủ nghĩa xă hội” . Mà yêu chủ
nghĩa xă hội th́ phải đấu tranh giai cấp,
phải cải cách điền địa. Thế là
ông làm ngay để xây dựng thiên đường
xă hội chủ nghĩa. Thiên đường chẳng
thấy đâu, chỉ thấy dân chúng sa vào địa
ngục có thật trên dương thế bởi những
chính sách độc ác, tàn bạo của ông.
Dân và quân đă đổ
máu nhiều để đưa đến chiến
thắng oanh liệt Điện Biên Phủ năm 1954.
Ai cũng nghĩ rằng sau chiến thắng Điện
Biên Phủ dân tộc Việt
Nam
dưới sự lănh đạo của Hồ chí
Minh sẽ tạo được nền độc
lập cho dân tộc. Nhưng chuyện đời
không đơn giản như vậy. Khi hội nghị
Geneve nhóm họp sau đó, chính Chu ân Lai của
phái đoàn Trung Cộng và Molotov của Nga xô đă
quyết định chia cắt Việt
Nam
thành hai miền và ranh giới chia cắt là vĩ
tuyến 17. Phái đoàn chính phủ Cộng sản
Việt
Nam
do Phạm văn Đồng cầm đầu hoàn
toàn không được quyết định ǵ
trong bàn hội nghị cảƯ. Nói thế để
thấy sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Hồ
chí Minh đă không mang lại độc lập cho
Việt
Nam
mà hoàn toàn lệ thuộc vào Nga và Tàu và mọi
chuyện trọng yếu của quốc gia Việt
Nam
đều do Nga, Tàu định đoạt. Thật
đau ḷng để thấy Hồ chí Minh chỉ
là một thứ tay sai của Quốc tế Cộng
sản không hơn không kém. Bao nhiêu máu xương
dân Việt đổ ra để rồi đất
nước lâm vào cảnh “ dịch chủ tái nô
“, đuổi được giặc Pháp đi rồi
nhưng lại để cho Nga và Tàu khống chế
số phận của Việt Nam. Ôi ! Thân phận nước
Việt Nam nhược tiểu chỉ là con cờ
của đám cường quốc ố tư bản
cũng như Cộng sản - lúc nào cũng chỉ
mong banh thây xẻ thịt nước Việt v́ quyền
lợi của họ chứ hoàn toàn không có ư trợ
giúp hay cải tiến đất nước Việt
tí nào cả. Kể từ năm 1954 trở về
sau, lănh đạo của cả hai miền Nam Bắc
lúc nào cũng cho ḿnh đang nắm chính nghĩa
trong cuộc chiến, nhưng thực sự chỉ
là một thứ thừa sai, đui mù thi hành nhiệm
vụ do quan thầy giao trong một cuộc chiến
ủy nhiệm, bày ra cảnh “ gà nhà bôi mặt
đá nhau, giết nhau “ một cách tàn bạo
để làm vừa ư quan thầy. Nước mắt
của mẹ Việt Nam cứ tuôn trào v́ những
đứa con mù quáng làm tay sai cho ngoại bang, nô lệ
cho ư thức hệ quốc tế ,chém giết nhau
không thương tiếc để đất
nước rơi vào cảnh nồi da xáo thịt,
thù hận ngày càng chất ngất măi không nguôi.
Máu vẫn tiếp tục chảy sau ngày 30/4/75 v́
những người lănh đạo Cộng sản
miền Bắc kế nghiệp Hồ chí Minh vẫn
say sưa chém giết đồng bào ruột thịt
miền Nam để xây dựng thiên đàng Mác
ố Lê, giết chóc đồng bào máu mủ miền
Nam như giết kẻ thù. Điều đáng buồn
là cho đến giờ phút này cũng vẫn có một
số người chưa nh́n thấy bản chất
của cuộc chiến Việt
Nam
chỉ là cuộc chiến ủy nhiệm. Và khi
không nh́n thấy bản chất cuộc chiến
th́ khó có thể mở một sinh lộ để
cứu nguy cho dân tộc được.
David G. Marr viết trong cuốn
sách “ Xem xét truyền thống Việt Nam 1920-1945
“ như sau, “ Thật là một sai lầm khi cho rằng
Hồ chí Minh hay bất cứ cấp lănh đạo
cao cấp nào của Đảng Cộng sản Việt
Nam là người quốc gia. Ngay từ năm 1922, Hồ chí Minh đă coi chủ
nghĩa quốc gia ( nationalism) là một thứ c̣i
hú nguy hiểm có tác dụng lôi kéo dân thuộc
địa ra khỏi chủ nghĩa Cộng sản
( communism).” ( trang 320). Riêng Jean Saintery trong cuốn
sách “ Au Viet Nam, Face A Ho chi Minh “ ( Ở Việt
Nam, đối diện với Hồ chí Minh) đă
cho biết rằng, “ Chúng ta có thể nói chắc
chắn rằng người thanh niên trẻ tuổi
Nguyễn ái Quốc tôn sùng chủ nghĩa Mác-Lênin
với sự thành thật hoàn toàn không hạn chế.
Trong thời gian hợp
tác tạm thời giữa Pháp và Việt Nam, Hồ
chí Minh đă có yêu cầu người Pháp loại
bỏ nhiều đối thủ chính trị , trong
đó bao gồm những người quốc gia.”
Khi quyết tâm mượn tay người Pháp
để tiêu diệt người quốc gia, Hồ
chí Minh đă chứng tỏ ông là một cán bộ
Cộng sản chuyên chính, sẵn sàng ra tay giết
hại người quốc gia mặc dầu phe quốc
gia và phe Cộng sản cùng có một mục đích
chung là chống thực dân Pháp.
Người Cộng sản
thường nói đến chuyện tranh đấu
cho độc lập dân tộc nhưng v́ đứng
chung chiến tuyến với khối xă hội chủ
nghĩa nói chung và Trung Cộng nói riêng nên Hồ
chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đă
v́ nghĩa vụ với quốc tế vô sản
mà “ hy sinh “ đi quyền sở hữu đất
đai của dân tộc. Lịch sử sẽ lên
án nặng nề lối hành xử của Hồ
chí Minh khi đặt quyền lợi Đảng lên
trên quyền lợi tối thượng của tổ
quốc.
Trong khi theo đuổi những
quyền lợi quốc gia, Việt Nam đă làm những
hành động có tính cách khiêu khích cao độ
đối với quan điểm của Trung Cộng.
Chẳng hạn trong thời gian dài tranh đấu
cho nền độc lập, Việt Nam đă không
có sự chống đối công khai nào về chuyện
Trung Cộng tuyên bố sở hữu chủ quyền
về đất đai ở biển Nam Hải (
South China Sea), thậm chí lại c̣n ủng hộ
chuyện lên tiếng công nhận chủ quyền
đất đai của Trung Cộng nữa. Người
ta c̣n nhớ năm 1974 khi Trung Cộng đánh chiếm
quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam Cộng
Ḥa, Bắc Việt hoàn toàn im lặng, không
đưa ra nổi một lời phản kháng. Chỉ
sau khi đất nước Việt Nam được
thống nhất và có đụng chạm với
Trung Cộng trong cuộc chiến biên giới năm
1979, Việt Nam mới thay đổi hẳn thái
độ của ḿnh, để rồi gần
đây lại rơi vào ṿng lệ thuộc Trung Cộng.
Năm 1975 Việt
Nam
chiếm một số đảo trong quần đảo
Trường sa ( Spartly), rồi sau đó công bố
quyền sở hữu lănh thổ trên toàn biển
Nam Hải. Bộ trưởng ngoại giao Nguyễn
mạnh Cầm cho biết như sau trong lời tuyên
bố trước báo chí vào ngày 2 tháng 12 năm
1992:
“ Những lời công bố
trước đây về quần đảo Hoàng
Sa ( Paracel) và Trường Sa ( Spartly) đă dựa
trên phạm vi hoàn cảnh như sau: Vào lúc đó,
với sự tuân thủ Hiệp định Geneve
ở Đông Dương, lănh thổ từ vĩ tuyến
17 về phía Nam bao gồm hai quần đảo nói
trên nằm dưới sự kiểm soát của
chính phủ Việt Nam Cộng Ḥa. Hơn
nữa, Việt
Nam
cần phải tập trung mọi nỗ lực
để đạt lấy mục tiêu cao nhất
là chống lại sự xâm lược của Mỹ
để bảo vệ nền độc lập quốc
gia. Việt
Nam
tranh thủ sự giúp đỡ của nhiều bạn
bè trên khắp thế giới. Trong lúc đó mối
quan hệ Hoa-Việt rất gần gũi và hai nước
tin tưởng nhau. Trung Cộng đă hỗ trợ
và cung cấp nhiều sự giúp đỡ giá trị.
Trong khung cảnh và xuất phát từ sự đ̣i
hỏi khẩn cấp của nhu cầu chiến
tranh nói trên, nên sự công bố của cấp
lănh đạo của chúng tôi ( ủng hộ sự
lên tiếng sở hữu chủ quyền của
Trung Cộng đối với quần đảo Hoàng
Sa và Trường Sa) là cần thiết v́ nó trực
tiếp phục vụ cho cuộc đấu tranh bảo
vệ độc lập dân tộc và tự do của
quê hương. Cụ thể hơn nữa c̣n có
nhu cầu cấp bách là ngăn cản đế quốc
Mỹ dùng những quần đảo đó để
tấn công chúng tôi. Điều đó không liên quan
ǵ đến những căn bản lịch sử
và pháp lư đối với hai quần đảo
Trường Sa và Hoàng Sa.”
Phải nhớ là dưới
chế độ Hồ chí Minh năm 1958, khi Trung Cộng
ra tuyên cáo về lănh hải 12 hải lư kể từ
đất liền của họ, quốc tế không
ai công nhận điều này, chỉ có Thủ tướng
Phạm văn Đồng đă viết văn thư
ngày 14 tháng 9 năm 1958 cho Trung Cộng xác nhận
chủ quyền của Trung Cộng thừa nhận
điều này một cách mau mắn như sau:
“
Chúng tôi trân trọng thông báo đến quư vị
rằng : Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ
Cộng Ḥa ghi nhận và công nhận tuyên bố
vào ngày 4 tháng 9 năm 1958 của nước Cộng
Ḥa Nhân Dân Trung Hoa liên quan đến lănh thổ của
Trung Hoa. Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ
Cộng Ḥa tôn trọng quyết định này và
sẽ ra lệnh cho các cơ quan liên hệ phải
triệt để tôn trọng vùng biển nội
địa của Trung Hoa được xác định
là 12 hải lư trong mọi tương quan trên biển
với Trung Hoa. Thưa đồng chí thủ tướng,
xin nhận nơi đây lời chào trân trọng của
tôi “
Thủ
tướng nước Việt Nam Dân Chủ Cộng
Ḥa
Phạm
văn Đồng
Trước đó ngày 15
tháng 6 năm 1956 Thứ trưởng bộ ngoại
giao nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa là
Ung văn Khiêm tiếp kiến Đại sứ lâm thời
của Trung Hoa tại Việt Nam là Li Shimin, chính thức
tuyên bố như sau, “ Theo những tài liệu mà
Việt Nam hiện có, những quần đảo Tây
sa ( Xisha) và Nam Sa ( Nansha ) trên quan điểm sử
học, th́ thuộc về Trung Hoa “.Ôạng Lê Lộc.
Chủ tịch lâm thời Châu Á sự vụ cũng
có mặt đă nói rằng, “ Trên quan điểm
lịch sử , các quần đảo Xicha và Nansha
đă thuộc về Trung Hoa từ thời nhà Tống
“.
Như vậy dưới
chế độ Hồ chí Minh, Thủ tướng
Phạm văn Đồng và Thứ trưởng Ung
văn Khiêm đă chính thức công nhận hai quần
đảo Trường Sa và Hoàng Sa là của Trung
Cộng. Đúng là chế độ Hồ chí Minh bán
nước có văn tự hẳn hoi. Khi đóng
vài tṛ là tên lính xung kích của Quốc Tế Cộng
Sản , Hồ chí Minh đă đặt quyền lợi
của nước Cộng sản đàn anh Trung Cộng
lên trên quyền lợi của dân tộc Việt
Nam, sẵn sàng dâng hiến đất đai lănh thổ
quư báu của tổ quốc cho ngoại bang không một
chút chần chừ, do dự.
Đến năm 1976, sau khi
chiến thắng ở miền Nam, những người
hậu duệ của Hồ chí Minh như Lê Duẩn,
Trường Chinh và Phạm văn Đồng vẫn
theo đuổi con đường ḥa hoăn, nhân nhượng
với kẻ thù truyền kiếp Trung Hoa. Hăy đọc
một đoạn trong báo Sài g̣n giải phóng vào
tháng 5 năm 1976 để thấy cái quan điểm
chủ quyền dân tộc của chính phủ Cộng
sản Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường
Sa mù mờ như thế nào trước dă tâm xâm
lăng của Trung Cộng:
“ Trung Quốc vĩ
đại đối với chúng ta không chỉ là
người đồng chí, mà c̣n là người
thầy tin cẩn đă cưu mang chúng ta nhiệt
t́nh để chúng ta có ngày hôm nay. V́
vậy chủ quyền Hoàng Sa thuộc Việt Nam
hay thuộc Trung Quốc cũng vậy thôi ! “
Rồi đến cuộc
chiến biên giới Việt ố Hoa năm 1979.
Trung Cộng đánh Việt Nam để trả thù
cho chuyện Việt Nam đem quân qua Kampuchia lật
đổ chế độ diệt chủng Pol
ố Pốt, vốn là đàn em thân thiết của
Trung Cộng. Lúc này th́ hai bên Trung Cộng và Việt
Cộng công bố ra những Bạch thư để
nói xấu nhau đủ điều. Bên này tố
cáo bên kia là vô ơn bạc nghĩa, lừa thầy
phản bạn. Và cho tới hôm nay th́ các hậu
duệ của Hồ chí Minh như Lê khả Phiêu,
Nông đức Mạnh, Đỗ Mười, Lê đức
Anh đă cam tâm kư hiệp định bán đất
và nhượng biển cho Trung Cộng để
mua lấy sự bảo trợ của Trung Cộng
đối với chính quyền Cộng sản
đương thời. Ngày xưa Hồ chí Minh cũng
đă nhân nhượng và quỳ lụy quan thầy
Trung Cộng th́ ngày nay lớp lănh đạo Đảng
kế nghiệp ông đă công khai bán nước
cho Trung Cộng th́ đó cũng là chuyện tất
yếu phải đến mà thôi. Trong mấy mươi
năm qua người Cộng sản thường tự
hào đă vận động chống thực dân
để giành độc lập cho dân tộc, nhưng
nay cứ nh́n vào chuyện Hồ chí Minh nhân nhượng
nước đàn anh Trung Cộng, trong đó có
chuyện Hồ chí Minh đồng ư cho cố vấn
Tàu Cộng vào giết dân lành Việt Nam trong cuộc
cải cách ruộng đất tàn bạo, và đàn
em của Hồ chí Minh bán nước, dâng biển
cho Trung Cộng th́ thấy cái chiêu bài đấu
tranh giành độc lập cho dân tộc của người
Cộng sản cần phải xem xét lại để
định công, luận tội một cách nghiêm khắc
chứ không thể coi đó là điểm son của
phe Cộng sản được.
Nói tóm lại, để
có phương tiện chống lại thực dân
Pháp, Hồ chí Minh đă đi theo Quốc tế thứ
ba, nhận viện trợ quân sự và kinh tế của
Quốc tế thứ ba để trang bị cho lực
lượng kháng Pháp, tôn thờ chủ nghĩa Mác
ố Lênin và dùng nó như một kim chỉ nam
để hành động. Hành động chống
Pháp đă làm cho nhiều sử gia đánh giá Hồ
chí Minh là một người tranh đấu có tinh
thần quốc gia. Nhưng Hồ chí Minh đă trở
thành một cán bộ Cộng sản chuyên chính khi
đi theo Quốc tế thứ ba, Hồ được
huấn luyện và được cử về Á
châu hoạt động theo chỉ thị của cấp
trên. Có chuyện trớ trêu là không ai khác mà chính
Stalin nghi Hồ theo khuynh hướng quốc gia và
Stalin đă cho Hồ ngồi chơi xơi nước
một thời gian. Hồ đánh Pháp với tinh thần
của một người đấu tranh giành
độc lập cho quốc gia nhưng lại sử
dụng chiến thuật chiến lược của
một cán bộ Cộng sản chuyên chính. Sau này
khi đánh Pháp thành công vai tṛ cán bộ Cộng sản
chuyên chính càng rơ nét và làm lu mờ thui chột
tinh thần quốc gia có trong tâm trí ông lúc đầu.
Đối với Hồ chí Minh, ông coi tổ quốc
xă hội chủ nghĩa cao hơn tổ quốc của
dân tộc Việt Nam.
Ngay trong di chúc viết trước
khi từ trần để lại cho chế độ
Cộng sản Hà nội, Hồ chí Minh mong sau khi
ĺa đời sẽ được đi gặp cụ
Mác, cụ Lênin chứ không mong về với các
vua Hùng của dân tộc. Tinh thần quốc tế
vô sản đă lấn át tinh thần dân tộc quốc
gia trong con người ông, phải nói tinh thần
quốc tế vô sản đă giết chết tinh
thần quốc gia trong người Hồ chí Minh.
Để đạt được cái cứu cánh là
cứu quốc gia Việt Nam khỏi ách đô hộ
của thực dân, Hồ chí Minh đă sử dụng
cái phương tiện lư thuyết và viện trợ
của Quốc Tế Cộng Sản. Ông đă
thành công trong chuyện đánh đuổi người
Pháp nhưng lại trở thành một tên lính xung
kích cuồng tín của Quốc Tế Cộng Sản
và từ đó đem đất nước Việt
Nam vào ṿng lệ thuộc của các nước
đàn anh xă hội chủ nghĩa Nga, Tàu. Ông
không đủ bản lănh để gỡ bỏ ṿng
kim cô ư thức hệ sau khi kháng chiến kháng Pháp
thành công.
Đất nước Việt
Nam ngày hôm nay vẫn c̣n loay hoay trong ṿng kim cô ư thức
hệ bùng nhùng Cộng sản. Đó là di sản
độc hại Hồ chí Minh để lại
cho nước cho dân. Đám lănh đạo ngày nay
đang buôn dân, bán nước, làm tay sai cho kẻ
thù truyền kiếp Trung Cộng. Ngày nay ngồi
suy ngẫm lại con đường Hồ chí Minh
đă đi để phân tích ra cái sai, cái đúng
để thế hệ sau học hỏi và suy ngẫm.
Quê hương Việt Nam cho đến bây giờ
vẫn c̣n bế tắc trong sự phát triển và
chủ quyền đất nước bị khuynh
đảo bởi đám cầm quyền ăằn
hại, đái nát.
Những người tâm
huyết c̣n nghĩ đến quê hương, đất
nước phải t́m ra một con đường
đúng đắn, khôn ngoan để cứu nước,
cứu dân. Rút tỉa kinh nghiệm xương máu
của những bậc tiền bối cách mạng
như Phan bội Châu, Phan chu Trinh và xem xét lợi hại
con đường đi của người cán bộ
Cộng sản có khi bị đánh giá là một người
đấu tranh có khuynh hướng quốc gia Hồ
chí Minh, và trong thời đại bùng nổ thông
tin như hiện nay, những anh hùng hào kiệt
đi cứu dân, cứu nước sẽ t́m ra
được con đường đúng đắn,
có chính nghĩa, hợp t́nh hợp lư, để
đi tới thành công. Chắn chắn và dứt
khoát con đường này không phải là con
đường “ bi đát” mà “ Bác đi” gần
một trăm năm trước.
Lawndale, Một sáng mùa thu
mát lạnh đầu tháng 10 năm 2004
TRẦN VIẾT ĐẠI HƯNG
Email: dalatogo@yahoo.com