CỘNG SẢN + ĐỘC ĐẢNG = 
NGHÈO ĐÓI  & TỤT HẬU!


    ARAFAT: GIẤC MỘNG KHÔNG THÀNH

  •  ĐẠI-DƯƠNG


     Tin Yasser Arafat, Chủ tịch Palestine qua đời hôm 11-11-04  tại bệnh viện quân đội Pháp ở Ba Lê đă tạo nên hai phản ứng trái ngược trên thế giới: luyến tiếc và hy vọng.

     Dân chúng Palestine đổ xô ra đường để đón quan tài của Chủ tịch Arafat với tiếng gào thét đau đớn cùng nhiều loạt súng tiễn biệt linh hồn người lănh đạo Phong trào Giải phóng Palestine- Palestine Liberation Organization, PLO.

     Trong khi đó, nhiều nhà lănh đạo trên thế giới vội vả t́m phương thức nhằm mang lại ḥa b́nh vĩnh cửu cho khu vực Trung Đông, bao gồm một quốc gia độc lập với thể chế dân chủ cho dân tộc Palestine từng chịu nhiều đau thương.   

     Phản ứng của dân chúng Palestine thể hiện tâm lư tôn sùng cá nhân của thời đại chiến tranh lạnh. Khung cảnh đó từng diễn ra tại nước Việt Nam Dân chủ Cộng ḥa (Bắc Việt) và Cộng ḥa Nhân dân Triều Tiên (Bắc Hàn) khi Hồ Chí Minh và Kim Nhật Thành từ trần.

     Tâm lư tôn sùng cá nhân một cách tuyệt đối khiến cho một dân tộc có thể bị đầu độc bởi những khẩu hiệu và chiêu bài do cá nhân hoặc tổ chức đề ra nhằm khích động ḷng yêu nước và tâm lư thù hận.

     Dân tộc bị guồng máy tuyên truyền của tổ chức và quốc tế đầu độc bằng những h́nh ảnh chọn lọc có chủ đích nhằm tạo nên các huyền thoại. Từ đó, dân tộc bị dẫn vào ḍng suy tư độc đạo nên mất khả năng phán đoán, thiếu điều kiện t́m hiểu và thực thi các giải pháp thích đáng, hợp lư hơn. V́ thế, khát vọng trở thành ảo tưởng khiến cho một dân tộc cứ đeo đuổi việc thả mồi bắt bóng mà gánh chịu biết bao đau đớn triền miên.

     Huyền thoại Arafat được dựng theo mô h́nh thời chiến tranh lạnh trộn lẫn giữa sự thật và hư cấu nhằm tạo ra một chiến sĩ kiên cường với lư tưởng giải phóng dân tộc dưới mắt công luận. Suốt 40 năm trời, Arafat trở thành biểu tượng của dân tộc Palestine với bộ quân phục và chiếc khăn rằn mang h́nh ảnh xứ Palestine trên đầu.

     Arafat tự khai nơi sinh tại thánh địa Jerusalem vào ngày 04-08-1929, nhưng, sự thực đă chào đời ở Cairo, thủ đô Ai Cập trong một gia đ́nh tiểu thương.

     Theo học kỹ sư tại Đại học Cairo từ năm 1949 và sáng lập Liên đoàn Sinh viên Palestine . Khi Liên minh Do Thái, Anh, Pháp xâm lăng Ai Cập, với tư cách một quân nhân trừ bị của Ai Cập, Arafat tham dự một khóa ḿn bẩy và chất nổ, đă trở thành hữu dụng cho các hoạt động khủng bố trong tương lai.

     Arafat đă gây ấn tượng mạnh mẽ đối với người Á Rập và Tây Phương qua h́nh ảnh chiếc khăn rằn chít trên đầu chàng sinh viên Palestine trong chuyến Âu du đầu đời.

     Sau khi tốt nghiệp kỹ sư rồi làm việc ở Á Rập Saudi và Kuwait năm 1957, Arafat đă tham gia các hoạt động của người quốc gia Palestine .

     Năm 1959, cùng với 4 đồng hương thành lập tổ chức Al Fatah - Chiến Thắng - với khẩu hiệu "Bạo lực là giải pháp duy nhất". Arafat tuyên bố "công cuộc giải phóng Palestine chỉ được hoàn tất thông qua ṇng súng".

    Tuy không giống các đồng chí bị mất quê hương khi Quốc gia Do Thái được thành lập vào năm 1948, nhưng, Arafat có ưu thế lănh đạo v́ không màng đến rượu chè, hút xách, trai gái mà cống hiến trọn đời cho sự nghiệp cách mạng. Măi đến năm 60 tuổi, Arafat mới cưới cô thư kư riêng làm vợ.

    Quan điểm bạo lực đă chi phối toàn bộ cuộc đời hoạt động của Arafat và Tổ chức Giải phóng Palestine cũng như Nhà đương cục Palestine - Palestinian Authority - hiện thời.

     Dưới sự bảo trợ của Liên đoàn Á Rập - Arab League - chính phủ Ai Cập thành lập Tổ chức Giải phóng Palestine vào năm 1964 nhằm qui tụ những thành phần  cùng chủ trương tiêu diệt Do Thái trong mục đích giám sát hoạt động tả pí lù của họ, nhưng, ít ai hy vọng vào khả năng tái lập quốc gia Palestine.

     Chiến thắng ngoạn mục năm 1967 của Do Thái đă làm cho Liên quân Á Rập mất thể diện cùng các vùng đất Tây Ngạn - West Bank - thánh địa Jurusalem, Dải Gaza và Đồi Golan.    

     Tuy nhiên, biến cố đó đă tăng cường sức mạnh cho quân du kích khi 380,000 người Palestine chạy trốn sự chiếm đóng của Do Thái tại Tây Ngạn sông Jordan . Hàng ngàn chiến sĩ đă tham gia tổ chức Al Fatah.

     Arafat bắt đầu nổi danh khi lén vào khu Tây Ngạn để tổ chức các nhóm du kích vũ trang. Từ các trại tị nạn bên bờ sông Jordan , quân của Arafat tung ra những trận đột kích nhắm vào thường dân và trẻ em làm cho Chính phủ Do Thái nổi giận mở cuộc tấn công căn cứ du kích ở Karameh ngày 21-03-1968. Al Fatah được sự yễm trợ của một tiểu đoàn thiết giáp của Jordan đă giữ vững thế trận mặc dù chịu tổn thất nặng nề.

     Tối lại, quân Do Thái rút về tạo điều kiện cho Arafat trở thành anh hùng trong thế giới Á Rập đang đói chiến thắng [quân Do Thái]. Thanh niên t́nh nguyện gia nhập, và tiền ủng hộ từ các nước Á Rập tuôn vào làm cho uy thế Al Fatah tăng mạnh giúp Arafat nắm Tổ chức Giải phóng Palestine và trở thành lănh tụ bất khả tranh cải vào đầu năm 1969. 

     Ở cương vị lănh đạo Tổ chức Giải phóng Palestine, Chủ tịch Arafat bác bỏ mọi giải pháp chính trị và thề phát động "chiến tranh giải phóng toàn diện" khi nói với phóng viên Oriana Fallaci của Ư Đại Lợi năm 1970 "Đối với chúng tôi, ḥa b́nh không ǵ khác hơn là hủy diệt Do Thái".

     Năm 1970, sự bành trướng của Tổ chức Giải phóng Palestine khơi dậy tham vọng của Arafat muốn tướt quyền của vua Hussein xứ Jordan . Do đó, vua Hussein đă điều động binh sĩ và thiết giáp xa vào thủ đô Amman hôm tháng 9-1970 để đàn áp và đẩy Tổ chức Giải phóng Palestine sang Lebanon . Dịp đó, người Palestine gọi là Tháng Chín Đen.

     Với 400,000 người Palestine tị nạn, Arafat đă tổ chức lực lượng cảnh sát, trung tâm nghiên cứu, bệnh viện, hệ thống kinh tài như một quốc gia trong một quốc gia. Năm 1975, quan hệ giữa người Palestine Lebanon căng thẳng đă làm bùng nổ cuộc nội chiến tại tiểu quốc này.  

     V́ các hoạt động phá rối của Tổ chức Giải phóng Palestine nên năm 1982, Do Thái đưa quân bao vây thủ đô Beirut và có triển vọng giết được Arafat. Tuy nhiên, một thỏa thuận do Mỹ bảo trợ đă cho phép tàn quân của Arafat rút khỏi Lebanon và tản mác khắp 8 thành phố Á Rập. Riêng nhóm lănh đạo chạy sang thủ đô Tunis của Tunisie tái lập Tổng hành dinh.

     Giấc mộng muốn tổ chức cuộc cách mạng bạo lực nhằm thành lập một quốc gia Palestine đă không thành do Arafat thiếu viễn kiến chiến lược.

     Thứ nhất, các quốc gia Á Rập tuy hận Do Thái đến tận xương tủy, nhưng, tự thấy không phải là đối thủ nên t́m cách thỏa hiệp để được sống trong ḥa b́nh và thu hồi một số đất đai bị mất v́ chiến tranh. Đồng thời, ủng hộ để Arafat ăn miếng trả miếng với Do Thái hầu thỏa chút tự ái chủng tộc.

     Thứ hai, Liên Xô muốn sử dụng Arafat để khơi dậy tinh thần chống Mỹ hầu kéo Trung Đông vào phe hoặc ít nhất cũng không ngă hẳn vào ṿng tay Hoa Thịnh Đốn.

     V́ không thấu đáo đường lối chiến lược nên Arafat như con thiêu thân dắt dân tộc Palestine lao vào cuộc chiến tranh giải phóng. Thực tế, sau một thập niên phát động phong trào giải phóng, người Palestine vẫn tị nạn ở các nước láng giềng và chưa bao giờ có được một quốc gia độc lập toàn vẹn. Cho đến năm 1969, các nhà lănh đạo Tổ chức Giải phóng Palestine mới nhận thấy bạo lực cách mạng không hề làm cho Do Thái chùn bước. Arafat nhiều lần bị vây khổn phải nhờ đến ngoại nhân mới toàn mạng. Ba năm qua, Arafat bị quân Do Thái giam lỏng tại Tổng hành dinh ở Ramallah.

      Suốt nhiều thập niên, Do Thái đă tung ra khoảng 40 âm mưu sát hại Arafat và càng củng cố thêm sức mạnh trên vùng đất chiếm đóng. Nhiều nhà lănh đạo Tổ chức Palestine bị sát hại. Năm 1975, có khoảng 10,000 người Do Thái ở Tây Ngạn. Ngày nay, 250,000 ở đó và 200,000 cư ngụ tại Jerusalem.

     Sau khi Liên Xô sụp đổ, Mạc Tư Khoa không c̣n ủng hộ các phong trào giải phóng nên Arafat mất hậu thuẩn về tài chính và chính trị.

     V́ ủng hộ Saddam Hussein trong cuộc chiến năm 1991 nên bị các quốc gia vùng Vịnh và các nhà ủng hộ khác cúp 100 triệu mỹ kim trợ giúp hàng năm khiến cho két sắt của Arafat trống rổng.

     Năm 1988, Arafat đảo ngược đường lối 25 năm trước để tuyên bố trước Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc tại Geneva, thừa nhận quyền tồn tại của Do Thái; và Tổ chức Giải phóng Palestine "hoàn toàn và tuyệt đối từ bỏ mọi h́nh thức của chủ nghĩa khủng bố".

     Hoa Kỳ dựa vào chiến thắng vùng Vịnh đă thúc đẩy sự h́nh thành Thỏa ước Oslo năm 1993 cho phép Arafat và Tổ chức Giải phóng Palestine trở về quê hương để thành lập Nhà đương cục Palestine vào tháng 7-1994, đồng thời, Do Thái cũng rút một số quân khỏi Dải Gaza và thành phố Jericho. Biến cố này mang lại giải Nobel Ḥa B́nh cho Arafat cùng Thủ tướng Yitzhak Rabin và Ngoại trưởng Shimon Peres của Do Thái.

     Dân tộc Palestine được mănh đất tạm tự trị không thông qua bạo lực cách mạng mà bằng giải pháp chính trị. Tiếc thay, Arafat tự phá vở tiến tŕnh trong cuộc đàm phán tháng 1-2001 với Thủ tướng Do Thái, Barak. Lần này, đảng Lao Động Do Thái đă đề nghị cho người Palestine toàn bộ Dảy Gaza và 94% vùng Tây Ngạn, suưt soát phần đất bị mất trong cuộc chiến 1967.

     Thái độ của Arafat chỉ có thể giải thích rằng Arafat coi trọng danh tiếng của một nhà cách mạng bạo lực hơn là v́ phúc lợi của dân tộc Palestine . 

     Nhóm Nghiên cứu về Khủng hoảng Quốc tế đă buộc tội giới lănh đạo Palestine "những cuộc tranh giành quyền lực mới đây, các vụ đụng độ vũ trang, nhiều cuộc biểu t́nh chứng tỏ người Palestine chống Do Thái ít hơn là chống lẫn nhau. Các cuộc xáo trộn không phải là sản phẩm của riêng Do Thái, mà cũng do phía người Palestine ".

     Thống kê của LHQ cho biết 50% người Palestine ở Tây Ngạn sống dưới mực nghèo khổ so với 22% năm 2001. Tại Dải Gaza lên tới 68%.

     V́ thế, sự qua đời của Chủ tịch Arafat khiến nhiều người nghĩ đến tảng đá cản đường không c̣n nên quyết thúc đẩy tiến tŕnh ḥa b́nh cho Trung Đông, trước nhất là dàn xếp cuộc sống chung giữa hai quốc gia láng giềng Do Thái và Palestine .

     Tel Avis phấn khởi và nóng ḷng nhất đối với mục tiêu sống chung ḥa b́nh với các dân tộc láng giềng để cùng nhau phát triển. Tất nhiên, các quốc gia chậm tiến mà thiếu tài nguyên dầu hỏa không thể bất cần sự giúp đở của Do Thái. Trong cuộc chơi này bên nào cũng có lợi hơn là chuyện đánh nhau triền miên và thù hận muôn đời.

     Quả bóng đang trên sân của các nhà lănh đạo ôn ḥa như tân Chủ tịch Phong trào Giải Phóng Palestine, Mahmud Abbas ; đương kim Thủ tướng Ahmed Qorei; và Chủ tịch Quốc hội, Rawhi Fattuh.

     Tổng thống George W. Bush nói với phóng viên nhân gặp mặt cùng Tổng thư kư khối Liên Pḥng Bắc Đại Tây Dương "Viễn ảnh hai quốc gia Palestine và Do Thái sống bên nhau trong ḥa b́nh đang nh́n thấy". Tổng thư kư cũng đồng thanh "Tôi nghĩ, chúng ta đă có cơ hội để làm việc đó, và tôi t́m cách tham gia vào tiến tŕnh này".

     Thủ tướng Tony Blair đă sang Hoa Kỳ để thảo luận về giải pháp ḥa b́nh cho Trung Đông. Hai bên đồng ư sẽ vận động Châu Âu tham dự vào tiến tŕnh này, đồng thời chờ đợi quyết định của dân chúng Palestine trong cuộc bầu cử giới lănh đạo sắp tới.

    V́ thế, hai bên chưa công bố cụ thể kế hoạch văn hồi ḥa b́nh cho khu vực Trung Đông.

     Quyết định của dân chúng Palestine cũng rất quan trọng trong tiến tŕnh ḥa b́nh nếu họ chịu đem khí giới đúc lưỡi cày và giải trừ mối hận thù lưu cửu từ quá khứ.

    Sự qua đời của Chủ tịch Yasser Arafat vừa là sự mất mác to lớn của dân tộc Palestine cũng là dịp may để dân tộc này có được một quốc gia độc lập, dân chủ, thịnh vượng và ḥa b́nh với láng giềng.

 

                                                         ĐẠI-DƯƠNG