VÀI
GÓP Ư VỀ VIỆC PHÁT TRIỂN VÙNG CHÂU THỔ
SÔNG
CỬU LONG
(2 bài)
Vùng
châu thổ sông Cửu Long được bắt
đầu khai phá sau khi nhà Nguyễn tiến về
phía
Nam
từ cuối thế kỹ thứ 17, 300 năm
trước.
Đây là một vùng đất gần như hoang dă,
đầy đầm lầy và dă thú, đầy cạm
bẩy đối với người Việt đi
khẩn hoang từ thuỡ ban đầu; một vùng
đất mà con người phải chùng bước
khi chạm trán với mọi bất trắc có thể
xảy ra bất kể không gian và thời gian. Mọi
di chuyễn bằng đường bộ hầu
như hoàn toàn chưa mở mang lúc đầu và
người dân tập trung di chuyễn bằng thủy
bộ...
Giờ
đây, sau 300 năm khai phá, châu thổ sông Cửu
Long đă phát triển và thành h́nh theo điều
kiện địa lư sau đây: diện tích khoảng
40 triệu mẫu tây so với dân số 17 triệu
(thống kê năm 1996), trung b́nh dân số tăng
500 ngàn mỗi năm, với mật đọ trung
b́nh là 385 người/km2 gần gấp đôi so với
mật độ cả nước (209 ngưới/km2).
Về
phương diện địa dư và phát triển
nông nghiệp có thể nói vùng châu thổ sông Cửu
Long (CTSCL) từ ngày xưa luôn là nơi cung cấp
lúa gạo và lương thực cho cả nước..
Theo thời gian diện tích đất khai thác có phần
tăng lên nhưng không đồng bộ với
đà gia tăng dân số (2,9
triệu năm 1954).
Từ
khi có chính sách cởi mở và đổi mới,
dân miền CTSCL bắt đầu tự làm chủ
mănh đất và mang nguồn thu
hoạch về cho chính ḿnh. Do đó mức sản
xuất lương thực tăng một cách đáng
kể và xă hội tương đói ổn định
về kinh tế. Trong tương lai
việc giáo dục người dân trong cách xử
dụng đất, luân canh, xử dụng phân bón,
thuốc trừ sâu rầy một cách đúng đắn
sẽ làm nông phẩm càng là môt nguồn lợi
chính yếu cho vùng.
Tuy
nhiên nếu không có kế hoạch cho tương
lai gần th́ một số vấn nạn trước
mắt sẽ là những cản ngại lớn cho
công cuộc phát triển.
Một số ư kiến sau đây có
tính cách đóng góp vào việc phát triển vùng
CTSCL, trung tâm lương thực cho cả nước.
·
Trước tiên việc
kiểm soát và điều ḥa nguồn nước
phải đuộc coi là yếu tố quan trọng
bậc nhất . Chính quyền cần
phải có một chính sách thật rơ ràng về kế
hoạch chống phèn, đuổi mặn, phân phối
và chuyễn vận nước, nghiên cứu đào
thêm để cung cấp đủ nguồn nước
cho nông nghiệp ở những vùng khắc nghiệt.
Việc đào kinh khu Tứ giác Long Xuyên để
đuổi phèn trong khu vực nầy chỉ là một
chính sách có tính cách ngắn hạn và chửa cháy
hơn là một quy hoạch đúng đắn
để rửa phèn!
·
Song song với điều
trên, việc phát triển giao thông, cùng đầu
tư nguồn vốn vào các công tŕnh đại trà
sẽ giúp cho người dân và chính quyền địa
phương kiểm soát được mức sản
xuất vá tiêu thụ cũng như việc xuất
cảng các nông phẩm thặng dư. Giáo dục
và ô nhiễm môi trường sẽ là hai vấn
đề thiết yếu trong tương lai. Việc
tăng gia sản xuất đồng biến với
việc ô nhiễm môi trường do đó nếu
không có một chính sách rơ ràng và quy chế xử
lư thích đáng vùng CTSCL sẽ chịu một khủng
hoăng đáng kễ trong tương lai. Tăng gia sản
xuất để phát triển kinh tế đ̣i hỏi
có kế hoạch tiêu thụ và phân phối nông phẩm
và chính sách rơ rệt về xử lư môi trường
để tránh các hiểm họa thường xảy
ra ở các nước đang mở mang
. Nên lưu ư bài học Thái Lan, Nam Dương,
Đài Loan, Đại Hàn, Mă Lai... về các bế tác về
xử lư chất phế thải kỹ nghệ vá
ô nhiễm môi trường.
·
Các công tŕnh đại
trà trên sẽ đưa đến việc biến
cải vùng CTSCL thành từng khu kinh tế tự
túc do đó giao thông và tiếp thị sẽ
được giải quyết dễ dàng và nhịp
đọ di chuyễn hàng hóa và nông phẩm
được giảm bớt đến mức tối
thiểu. Tứ đó các vùng kinh tế tự túc
sẽ lần lần được đo thị hóa
và mỗi vùng nhỏ sẽ biến thành những tụ
điểm (khu sản xuất hay chế xuất),
thành phố có một cơ cấu chính quyền
địa phương riêng. Dân trí sẽ
được tăng dần nhờ việc phát
triển và giao thương với các thành phố
lớn khác ở miền
Nam
.
·
Một khi người
dân đă có đời sống kinh tế ổn
định, nhu cầu tinh thần là việc tiếp
theo cần được giải quyết
: đó là việc nâng cao đời sống
trí tuệ và văn hóa của người dân trong
vùng. Hợp chủng văn hóa đa dạng từ
ban đầu ( Việt, Cao Mien,
Trung Hoa, Chàm và thiểu số dân đến từ
Mă lai..) phải được bảo tŕ và nâng
cao để tránh những va chạm trong tương
lai. Hiện tại, mặc dù nền kinh tế trong
vùng CTSCL đă phát triển tương đói phong
phú, nhưng người dân vẫn có một đời
sống tinh thần và xă hội tương đối
thấp so với các nơi khác: trường ốc
vẫn thiếu thốn, nhu cầu trường
trung học cấp ba chưa thỏa măn , học
sinh c̣n phải di chuyễn xa nhà để tiếp
tục việc học, các trạm y tế c̣n nghèo
nàn và quá xa tầm tay của người dân, sinh
hoạt văn hóa rất hạn chế, tŕnh đọ
văn hóa thấp kém và trên đà giảm sút
(tŕnh độ trung b́nh của người dân
ở mức lớp 5 (1997) tính từ 15 tuổi trở
lên so với mức lớp 7 trước năm
1975).
·
Tiếp theo
vấn đề cốt lỏi được
đặt ra là làm thế nào để có một
kế hoạch theo dơi khuyến cáo, cũng như tạo
áp lực chống lại các dự án quốc tế
đă và đang thành h́nh về sông Cửu Long mà
có ảnh hưởng bất lợi đến vùng
CTSCL. Các dự án xây đập thủy điện
từ Trung Hoa, Thái Lan, Lào, Cao Miên ..
. sẽ hạn chế
hay tiêu hủy nguồn cá trong vùng, biến cải
thành một hệ thống môi sinh khắc nghiệt
hơn cho việc trồng trọt, ảnh hưởng
đến mùa màng trong việc kiểm soát nguồn
nước, tiêu diệt nguồn phân bón thiên nhiên
đến từ ḷng sông và quan trọng hơn hết
là nguy cơ nước mặn tiến chiếm sâu
dần vào nội địa với hậu quả
to lớn là đất canh tác sẽ bị thâu hẹp
lại.
·
Sau hết, từ năm
1926 chưa bao giờ mực nước sông Cửu
Long xuống đến mức thấp nhất , chỉ
dưới 3 mét nước cho năm nay ( 1998) và dự
phóng tương lai là sẽ hiếm thấy mùa nước
dâng cao hay ngập lụt hàng năm v́ những
đập thủy điện đă xây cất
ỡ thượng nguồn.
Triển
vọng mở mang vùng CTSCL có nhiều cơ may
đạt được so với các vùng khác
ở Việt
Nam
nếu chính quyền trung ương và địa
phương lưu tâm thực sự và đúng mức.
Nếu được như thế
th́ chắc chắn trong một tương lai gần
múc công nông phẩm xuất cảng ở vùng nầy
sẽ góp phần không nhỏ cho nền kinh tế
quốc gia.
Nhiễm
Độc Thực Phẩm & Việc Đi Về Việt
Nam
T́nh
trạng ô nhiễm môi trường ở Việt
Nam
hiện tại có thể nói là đă đến mức
trầm trọng, đặc biệt là ô nhiễm
các hóa chất độc hại có tên chung là “thuốc
bảo vệ thực vật”. Sự hiện diện
của các hóa chất nầy đă được
ghi nhận trong nguồn nước, không khí, đất,
các mạch nước ngầm, thậm chí ngay trong
thực phẩm nữa. Qua những vụ ngộ
độc từ Bắc chí
Nam
đă được báo chí Việt
Nam
đăng tải trong thường xuyên cho thấy
mức ô nhiễm đă gia tăng đáng kể.
Chúng tôi, từ hơn 10 năm nay đă quan tâm rất
nhiều về các vấn nạn môi trường
ở Việt
Nam
. Tuy không đề cập đến ô nhiễm nguồn
thực phẩm, nhưng thực sự vấn đề
nầy chỉ là một hệ luận tất nhiên
khi môi trường bị ô nhiễm mà thôi.
Thuốc
bảo vệ thực vật
Dựa
theo kết quả phân tích của các nhà khoa học
và y tế Việt Nam, th́ các vụ ngộ độc
thực phẩm như rau muống, cà pháo, ngó sen, bắp
cải v. v.. là do thuốc băo vệ thực vật
thuộc gốc organo-phosphate. Danh từ thuốc băo
vệ thực vật Việt Nam dùng để chỉ
các loại hóa chất dùng làm thuốc sát trùng,
thuốc trừ sâu rầy, thuốc diệt cỏ
dại, và thuốc trừ nấm. Việc truy t́m
nguyên nhân cho các vụ ngộ độc trên cũng
tương đối giăn dị. Xin đan cử
ra đây ba lư do chính khiến cho t́nh trạng ngộ
độc ngày càng có tính cách phổ quát hơn là:
·
Người
sử dụng thuốc băo vệ thực vật
không có đủ thông tin trong khi dùng đến các
loại thuốc trên. Ở Việt Nam hiện có
trên 200 loại thuốc và có trên 700 nhản hiệu
khác nhau, chưa kễ các thuốc nhập lậu
không có nhản hiệu, và rất nhiều tên thuốc
nằm trong danh sách bị cấm sử dụng;
·
Nông dân
không được hướng dẫn đầy
đủ trước khi sử dụng;
·
Tệ hại
hơn nữa, một số cán bộ nhắm mắt
làm ngơ v́ quyền lợi cá nhân khi đem bán
các thuốc băo vệ thực vật trái phép đă
bị tịch thu và bị cấm sử dụng.
Theo
báo cáo của Bộ Thương Mại mà chúng
tôi đọc được trên báo Người
Lao Động ngày 20/4/2002 th́ hàng năm, mức tiêu
thụ thuốc bảo vệ thực vật trong nước
vào khoảng 1,5 triệu tấn, không kể một
số lượng không nhỏ được nhập
cảng lậu qua đường biên giới mà
chính quyền không thể kiểm soát được.
Khi đem con số nầy áp dụng vào tổng diện
tích trồng trọt ở Việt Nam vào khoảng
10 triệu hecta, dĩ nhiên giới làm khoa học
có thể thấy ngay rằng người nông dân
Việt Nam đă sử dụng một số lượng
thuốc cao gấp nhiều lần hơn so với
nông dân ở các quốc gia Tây phương.
Cơ
quan Lương Nông quốc tế (FAO) đă từng
khuyến cáo là chỉ số sử dụng thuốc
băo vệ thực vật ở Việt Nam rất
cao, đạt mức trung b́nh cho một mùa là 5,3,
trong lúc đó chỉ số trên ở Trung Quốc
là 3,5, Phi luật Tân, 2,0, và Ấn đo,ầ 2,4.
Thêm nữa, tiến sĩ Ngô Kiều Oanh, thuộc
Trung tâm Khoa học Tự nhiên đă nhận định
rằng so với diện tích đất nông nghiệp
ở Việt
Nam
th́ chỉ cần độ 50 ngàn tấn thuốc
bảo vệ thực vật là qúa dư thừa rồi.
Như vậy, anh thấy nông dân Việt
Nam
ḿnh đă tiêu dùng gấp 30 lần lượng hóa
chất nhiều hơn mức trung b́nh!. Từ
đó suy ra mức ô nhiễm hóa chất độc
hại lên thực phẩm tiêu dùng ở Việt
Nam
là kết quả đương nhiên mà người
tiêu thụ trong nước phải hứng chịu.
Ngộ
độc thực phẩm khi về Việt Nam
Những
vụ ngộ độc thực phẩm gần
đây đều do các thuốc bảo vệ thực
vật có gốc organo-phosphate. Vào ngày 15/1/2002, EPA
Hoa kỳ đă công bố mức nhiễm độc
của 31 thuốc sát trùng thuộc loại nầy.
Kết quả sơ khởi cho thấy rằng các
loại thuốc nầy không ảnh hưởng lên
sức khỏe con người qua đường
nước uống, mà chỉ xâm nhập vào cơ
thể qua đường thực phẩm, đặc
biệt là trẻ em từ 1 đến 3 tuổi. Thực
phẩm, nhất là các hoa màu hấp thụ các hóa
chất trên qua rễ và tích tụ lại trong
thân, lá.. .
và từ đó xâm nhập vào cơ thể. Trường
hợp ngộ độ do ăn canh mồng tơi
là một điều rất đáng quan ngại.
Và điều nầy làm cho chúng tôi liên tưởng
đến mức an toàn trong không khí. Câu hỏi
được đặt ra nơi đây là: có lư
nào mức ô nhiễm hóa chất đă hiện diện
trong không khí ở những vùng chuyên canh? Theo TS Lê
Tường Giang, Phó GĐ Sở Y tế Hà Nội
tuyên bố ngày 14/4/04 rằng:”T́nh h́nh thực phẩm
ô nhiễm vi sinh vật và tàn dư hoá chất
độc hại là một vấn đề lớn.”
Trở
lại vấn đề của người Việt
về thăm nhà trong một thời gian ngắn hạn,
chúng tôi có ư kiến sau đây. Sống ở một
môi trường tương đối sạch, ít
bị ô nhiễm, người Việt chúng ta có sức
đề kháng với vi trùng, hóa chất độc
hại.. .
rất yếu so với người địa
phương. Khi về Việt Nam, tiếp cận trực
tiếp với môi trường ô nhiễm không
khí, nước sinh hoạt, và thực phẩm, th́
một sự ngộ độc nhỏ cũng có thể
gây ra tử vong cho những người ở ngoại
quốc đi về thăm nhà được.
Do
đó, chúng tôi đề nghị qua kinh nghiệm của
bè bạn và chính bản thân, tuyệt đối
không dùng nước đá v́ đây là mầm chứa
vi khuẩn E-coliform nhiều nhất. Cần nên
ăn thực phẩm được nấu chín.
Các món ăn đặc sản như thịt cá sống,
tiết canh,.. .
cần nên tránh xa v́ mức nhiễm độc siêu
vi khuẩn rất cao. Thêm nữa, cũng đừng
nên ăn các loại rau “sống” v́ các bịnh
về đường ruột đang chờ quưvị
nơi đây. Đối với các loại nghêu ṣ
ốc hến th́ càng nên tránh xa v́ chúng sống
ở tận đáy sông hồ là nơi tích tụ
các độc chất nhiều nhất.
Một
bản tin mới nhất do TS Nguyễn Đức Tuấn,
Trưởng Pḥng thí nghiệm Môi trường thuộc
Trung tâm Kỹ thuật-Tiêu chuẩn-Đo lường-Chất
lượng công bố trên báo Lao Động ngày
11/5/04 cho thấy:” Tất cả các loại hoa quả
Trung Quốc và cam Việt Nam đều có chứa
thuốc diệt cỏ 2,4-D và 2,3,4-T. Theo nguồn
tin từ các tỉnh cung cấp th́ các loại hoá
chất nầy đang được nông dân xử
dụng vào mục tiêu bảo quản hoa quả.
Vào tháng 9,2003, Trung tâm Thông tin và Chuyển giao Công
nghệ Hà Giang có chuyển đến pḥng thí nghiệm
hai gói bột in chữ Trung Quốc. Qua phân tích,
chúng tôi t́m thấy nhiều hợp chất trong
đó có hóa chất 2,4-D dạng kỹ thuật có
hàm lượng 70%. Riêng gói thuốc diệt cỏ
màu xanh đậm, c̣n t́m thấy hóa chất
2,3,4-T.”
Cũng
cần nên biết, hai hóa chất trên là hổn hợp
của thuốc khai quang mà Hoa Kỳ đă áp dụng
trong chiến tranh Việt Nam qua chiến dịch
Ranch Hand từ năm 1961 đến 1971. TS Tuấn
cũng đă công bố hàm lượng của hai
hóa chất trên là 0,4 mg/Kg ở vơ và 0,04 mg/Kg (tức
ppm hay 40,000 ppt (phần ức)) ở ruột hoa quả.
Oạng cũng đă cảnh báo rằng hiện
nay chưa có phát hiện nào từ việc nhiễm
độc tức khắc đối với người
bị tiếp nhiễm hóa chất nầy. Song về
lâu dài nếu có hàm lượng Dioxin trong hoa quả
mà người tiêu dùng xử dụng có thể bị
nhiễm độc từng ngày. (Cũng cần nên
biết, Dioxin là phó phẩm trong quá tŕnh sản xuất
chất 2,3,4-T và có hàm lượng từ 1 đến
50 phần triệu của hoá chất nầy). Oạng
tiếp:” Đây chính là điều mà chúng ta cần
cảnh báo tránh t́nh trạng ảnh hưởng
đến thế hệ mai sau do 2,4-D và 2,3,4-T có khả
năng gây đột biến gene.”
Liền
ngay sau khi kết quả trên được công bố
trên báo chí, ngày 13/5/04, Oạng Hoàng Thủy Tiến,
Phó Cục trưởng An toàn Vệ sinh Thực phẩm,
thuộc Bộ Y tế, đă tuyên bố:” Các
hoá chất băo vệ thực vật 2,4-D và 2,3,4-T
trong táo, mơ, trứng, sữa và các loại quả
mọng khác đều có hàm lượng không quá
0,05 mg/Kg hoa quả. Như vậy, lượng hoá
chất độc hại tồn dư trong hoa quả
vẫn ở dưới ngưỡng cửa cho phép.
Người tiêu dùng không nên quá lo lắng.”
Từ
những công bố và tuyên bố trên, chúng tôi nhận
thấy Việt Nam đă áp dụng tiêu chuẩn
độc hại cho con người một cách
riêng rẽ và tùy tiện như việc xác định
định mức cho phép của hai hoá chất
trên quá cao so với các định mức theo tiêu
chuẩn của Tổ chức Y tế Thế giới
(WHO).
Thêm
nữa, ngay sáng ngày 17/5/04, đài RFI (Pháp) có phỏng
vần BS (?)Nguyễn Văn Tuấn (UÔc Châu) về
vấn đề trên, và được BS(?)trả
lời tương tự như lời công bố của
vị đại diện Bộ Y tế là ông HTTiến.
BS(?)cũng c̣n thêm rằng lượng chất da
cam trong các hoa quả vừa t́m thấy vẫn c̣n
ở dưới tiêu chuẩn nhiễm độc(?).Phải
chăng, qua những lời tuyên bố trên RFI,
BS(?)Nguyễn Văn Tuấn có ư vừa giúp lănh
đạo Việt Nam xoa dịu sự xao động
của dân chúng, và vừa giải tỏa nỗi
khó chịu của đàn anh nước lớn
Trung Quốc đă không hài ḷng với khám phá mới
đây của TS Nguyễn Đức Tuấn chăng?
Tóm
lại, khi về Việt Nam dù là ngắn hạn,
việc ăn uống phải giữ ǵn thật cẩn
thận. Điều cần thiết trước khi chuẩn
bị đi về Việt Nam là nên chích ngừa
và uống các loại thuốc như ngừa sốt
rét, viên gan A,B, và ngừa các nhiễm trùng về
đường tiêu hóa.
Ô
nhiễm môi trường
Theo
Luật môi trường của Việt Nam hiện
tại, mọi nhà máy trước khi được
cấp giấy phép hoạt động đều
phải thiết lập phương án xử lư phế
thải! Nhưng điều nầy đă không xảy
ra. Thành phố HCM hiện có 27.865 cơ sở sản
xuất công nghiệp mà tuyệt đại đa số
đă đổ phế thải thẳng vào môi trường.
Có thể nói hầu hết các nhà máy chúng tôi có
dịp ghé thăm (năm 2000) ở khu chế xuất
Tân Thuận và B́nh Dương đều không có hệ
thống xử lư phế thải và phế thải
được đổ vào môi trường qua ngă
cống rănh và đi thẳng vào sông ng̣i. Năm
1999, chúng tôi có phân tích một số mẩu nước
lấy từ các giếng đào vùng Xóm Mới,
và Củ Chi là những vùng chuyên canh trồng hoa
màu. Kết quả phân tích đă cho thấy sự
hiện diện của các kim loại nặng độc
hại như chrome, ch́, manganese, và thủy ngân. Do
đó, những khám phá mới nhất gần đây
trong việc phân tích ngó sen đă không làm chúng tôi
ngạc nhiên về nguồn thực phẩm nầy
bị nhiễm độc. Một vài thí dụ như
Công ty Bột ngọt Vedan ở Biên Ḥa đă bị
làm biên bản đóng cửa do Sở Môi trường
thành phố từ năm 1999, nhưng Công ty nầy
chưa ngưng hoạt động ngày nào cả. Tương
tự, trường hợp của công ty Vissan, và
c̣n bao nhiêu công ty khác nũa cũng nằm trong
trường hợp trên.
Từ
những nhận định trên, và trong t́nh trạng
hiện tại, dĩ nhiên mức ô nhiễm các
hóa chất độc hại ở Việt Nam sẽ
ngày càng trầm trọng thêm lên mà thôi.
Việt
Nam có hai vấn đề trọng yếu. Một là
vấn đề xử lư phế thải do sản
xuất công nghiệp. Hai là nạn ô nhiễm môi
trường do việc sử dụng các thuốc bảo
vệ thực vật bừa băi, quá tải, và
không đúng cách. Việt Nam đă thấy rơ hai
nguyên nhân chính của vấn đề, do đó việc
giải quyết c̣n tùy thuộc vào quyết tâm của
Việt Nam mà thôi.
Trước
mắt, chúng tôi nhận thấy Việt Nam chưa
để tâm nhiều đến các chương tŕnh
hay biện pháp xử lư ô nhiễm hay bảo vệ
môi trường. Các sự kiện điển h́nh
sau đây có thể chứng minh cho nhận định
trên là:
·
Khả năng
nhân sự lẫn kỹ thuật của Việt Nam
hiện tại chưa đủ chuyên môn và số
lượng để giải quyết t́nh trạng
ô nhiễm ở Việt Nam;
·
Việc ô
nhiễm sông Sàig̣n và Đồng Nai đă xảy ra từ
hơn chục năm nay mà chính quyền mới vừa
bắt đầu thiết lập các thủ tục
hành chánh, ra chỉ thị cho các cơ quan liên hệ
lập “phương án” xử lư, và việc xử
lư không biết đến bao giờ mới bắt
đầu thi hành?
·
UBND thành phố
HCM đă cho thực hiện di dời các cơ sở
sản xuất tạo ra ô nhiễm trong nội
thành ra ngoại thành từ hơn ba năm nay. Bỏ
qua các quyết định về kinh tế hay tài
chánh, nhưng đứng về mặt môi trường
th́ việc làm nầy là một việc làm vô ích.
V́ làm như thế, chỉ di dời cơ
sơ,Ư nhưng chất phế thải độc
hại vẫn đi vào trong ḷng đất và xâm
nhập vào mạch nước ngầm để tiếp
tục tạo ra ô nhiễm cho môi trường.
Từ
những nhận xét trên, chúng tôi muốn nhấn mạnh
rằng, Việt Nam có thể làm được việc
nếu biết áp dụng một cách đứng
đắn và nghiêm chỉnh Luật Môi trường
hiện có. Trong một bài viết trước
đây, chúng tôi có khảo sát về vấn đề
xử lư môi trường ở Chí Lợi, một
trường hợp tương tự như ở
Việt Nam. Sau một thời gian dài dưới chế
độ độc tài, Chí lợi bị một vấn
nạn môi trường rất lớn. Nhưng khi
chính phủ dân sự lên nắm chính quyền, và
chỉ sau hơn 10 năm, vấn đề môi trường
của Chí Lợi đă được giải quyết
một cách rốt ráo. Chính phủ kiểm soát
được t́nh trạng ô nhiễm và đề
ra được những tiêu chuẩn môi trường
ngang hàng với tiêu chuẩn của các nước
có kỹ nghệ phát triển cao.
Làm
được như thế, v́ Chí Lợi tạo
được điều kiện hợp tác nhịp
nhàng giữa chính quyền và dân chúng. Theo thiển
ư của chúng tôi, chỉ có sự hợp tác nhịp
nhàng nầy mới giải quyết được
bài toán ô nhiễm ơ Việt Nam mà thôi. Chúng tôi
chưa thấy con đường nào khác hơn
được!
Tất
cả tùy thuộc vào lănh đạo của Việt
Nam. Một khi đă nắm bắt được
nguyên nhân gây ra thảm nạn môi trường th́
vấn đề giải quyết sẽ không khó. Vấn
đề trở nên khó chỉ v́ thiếu quyết
tâm mà thôi. Không cần phải có một trí tuệ
siêu việt để giải quyết vấn đề,
mà chỉ cần có những trái tim biết yêu Đất
và Nước Việt Nam.
Những
chương tŕnh đề ra gần đây của
Việt Nam như tuần lễ làm sạch môi trường,
tháng an toàn thực phẩm, hoặc tháng hành động
v́ chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm..
. chỉ là những phương án biểu
kiến, có tính cách hời hợt, h́nh thức..
. và dĩ
nhiên sẽ không đạt được kết
quả mong muốn.
Tất
cả v́ chính quyền, cán bộ, nông dân, người
sản xuất, và cả người tiêu dùng không
có cùng một nhịp đập cho trái tim Việt
Nam thật sự.
Trong
điều kiện môi trường xuống cấp
tệ hại như hiện tại cho dù cố gắng
để có một nhận định thật tích
cực và lạc quan về t́nh trạng ô nhiễm
ở Việt Nam, phải thành thật mà nói, chúng
tôi không thấy một giải pháp nào trong ngắn
hạn hay dài hạn cả! Trừ phi có một
phép lạ xảy ra cho Việt Nam.
Mai
Thanh Truyết
California
5/2004