VIỆT
KIỀU THẬT, VIỆT KIỀU GIẢ
Tin tức từ hệ thống
truyền thông quốc doanh cho biết số lượng
Việt kiều về nước trong năm 2004 lên
đến 400,000 người.
Phan Văn Khải,
Thủ tướng cộng sản Việt Nam trong
buổi họp mặt mừng xuân Ất Dậu với
600 Việt kiều tại dinh Thống Nhất hôm
30-01-05 đă phát biểu "Người Việt
Nam ở nước ngoài dù đi đâu, ở
đâu, dù đi ra nước ngoài v́ bất cứ
lư do ǵ, họ cũng là máu của máu VN, là thịt
của thịt VN".
Cộng đồng người Việt hải
ngoại phức tạp hơn bất cứ sắc
dân nào sinh sống ở 90 quốc gia khắp thế
giới thuộc nhiều thành phần khác nhau về
lư tưởng, về mục đích qua nhiều biến
cố lịch sử.
Nhóm đệ nhị thế chiến
đa số có thiện cảm với Việt Minh
v́ uất ức với cách cư xử kiểu thực
dân của người Pháp.
Nhóm lẫn tránh chiến tranh miền Nam qua chương
tŕnh du học, hoặc có liên hệ với chính phủ
nước ngoài nên sinh sống ở ngoại quốc
suốt thời kỳ chiến tranh Đông Dương.
Một số tham gia các phong trào phản chiến một
chiều nên chỉ chống lại chính phủ Việt
Nam Cộng Ḥa và quân đồng minh tham chiến tại
Đông Dương. Không mấy ai trong số họ
t́nh nguyện trở về sinh sống tại quê
cha đất tổ khi ḥa b́nh tái lập với
đảng cộng sản thống trị toàn cỏi
Việt Nam.
Nhóm tị nạn quốc gia gồm du học
sinh Việt Nam Cộng Ḥa mang tinh thần quốc
gia; những viên chức ngoại giao VNCH không muốn
rơi vào tay cộng sản sau
năm 1975.
Nhóm tị nạn
cộng sản năm 1975 khoảng 200,000 người
vượt hẵn số lượng
Việt kiều từng sinh sống ở ngoại
quốc. Đa số chống cộng quyết liệt
v́ từng gánh vác trọng trách bảo vệ dân
chúng miền
Nam
vĩ tuyến 17. Sự xuất
hiện bất ngờ của nhóm này đă làm thay
đổi quan điểm của người ngoại
quốc cũng như người Việt hải
ngoại về đảng cộng sản Việt
Nam, về cuộc chiến tranh Đông Dương
mà từ trước từng bị bóp méo bởi
truyền thông thế giới cũng như guồng
máy tuyên truyền của Đệ Tam Quốc Tế.
Sự
tương đồng lư tưởng đă kết
hợp hai nhóm tị nạn quốc gia và tị nạn
cộng sản thành một lực lượng chống
cộng vượt trội trong cộng đồng
người Việt hải ngoại. Nhờ
thế, người ngoại quốc và cộng
đồng người Việt hải ngoại
đă xem xét cuộc chiến Đông Dương
tương đối chính xác hơn.
Nhóm thuyền
nhân bao gồm những người Việt đi t́m
tự do từ cuối thập niên 1970. Sự ra
đi ồ ạt của thuyền nhân Việt trên
các phương tiện thô sơ trải qua những
hiểm nguy do công an cộng sản, hải tặc,
biển cả ... đă làm thức tĩnh
lương tâm nhân loại trước một vấn
nạn to lớn của thế kỷ 20. Cộng
đồng quốc tế, kể cả lực
lượng chống cộng đă ra sức cứu
vớt, cưu mang hơn một triệu thuyền
nhân. Hơn 600,000 thuyền nhân bất hạnh
đă mất mạng trên đường t́m tự
do.
Huyền thoại giải phóng dân tộc, giải
phóng giai cấp do cộng sản Việt
Nam
dày công dàn dựng đă tan thành mây khói khi làn
sóng thuyền nhân với khát vọng tự do tỏa
khắp thế giới. Nhóm thuyền
nhân mang nhiều ấn tượng thương
đau dưới chế độ Cộng ḥa xă hội
chủ nghĩa Việt
Nam
đă ḥa nhập vào lực lượng chống cộng
ở hải ngoại làm thành đa số tuyệt
đối trong cộng đồng hải ngoại.
Nhóm tị nạn
cộng sản bất đắc dĩ khi Đông
Âu là Liên Xô sụp đổ vào năm 1989 và 1991
v́ hợp đồng lao động
không c̣n hiệu lực và Nhà nước Cộng ḥa
xă hội chủ nghĩa không thực tâm
đưa toàn bộ về nước. Trong khi
đó, những người đi lao
động hợp tác và du học sinh, nghiên cứu
sinh cũng không muốn trở về quê hương
v́ nhiều lư do khác nhau. Một số
chê chủ nghĩa cộng sản sau nhiều
năm trường bị nhồi nhét những
điều không tưởng. Số khác v́ lư
do kinh tế dù cho phải làm những việc bất
hợp pháp để kiếm sống nơi xứ
người.
Nhóm cựu
tù nhân chính trị được Hoa Kỳ cho phép
tái định cư từ cuối thập niên 1980
mang theo những vết thương chí mạng về
vật chất lẫn tinh thần do cộng sản
gây ra đă bổ sung thêm sức mạnh cho lực
lượng chống cộng trong cộng đồng
người Việt hải ngoại.
Được
sự cưu mang của các quốc gia sở tại,
cộng đồng người Việt đă biểu
thị tinh thần lá lành đùm lá rách để
cùng nhau hội nhập và vươn lên trong xă hội
tạm dung. Đồng thời, cũng không
quên giúp đở cho thân bằng quyến thuộc
bất hạnh tại quê nhà và kiên tŕ đấu
tranh cho nước Việt
Nam
tự do dân chủ phú cường.
Sự
lớn mạnh của cộng đồng người
Việt hải ngoại không liên hệ ǵ đến
các Đại sứ quán và Lănh sự quán của
chính phủ Cộng ḥa xă hội chủ nghĩa Việt
Nam
. Trái lại, từ Thủ tướng Phạm
Văn Đồng cho chí các nhà ngoại giao Hà Nội
và truyền thông quốc doanh đă không tiếc lời
sỉ nhục người Việt tị nạn cộng
sản.
Cho
tới nay, hầu hết người Việt tị
nạn đều mang quốc tịch nước
ngoài và cộng đồng người Việt hải
ngoại đă có một tiềm lực kinh tế
và chất xám dồi dào. Cộng
đồng này không liên hệ ǵ đến Nhà nước
Cộng ḥa xă hội chủ nghĩa Việt
Nam
về mặt pháp lư cũng như trên phương
diện xây dựng và phát triển.
Nhóm Việt kiều tạm thời
chiếm một tỉ lệ rất nhỏ trong cộng
đồng người Việt hải ngoại, tuy
cho chiều hướng gia tăng trong những
năm tới, nhưng cũng sẽ chiếm tỉ
lệ không đáng kể ở nước ngoài.
Tiến tŕnh hội nhập với thế giới
văn minh tạo điều kiện cho Hà Nội
tung cán bộ chính trị, kinh tế, văn hóa
đi khắp nơi, tăng cường số du học
sinh, nghiên cứu sinh và lực lượng lao động
ra nước ngoài, du lịch t́m việc ... Số
người này chịu sự quản lư chặt chẽ
của Đại sứ quán và Lănh sự quán cộng
sản. Hầu hết c̣n mang quốc
tịch Việt
Nam
. Nhóm này chẳng hề và cũng
không cần góp chút sức nào vào sự phát triển
và phồn thịnh của cộng đồng
người Việt hải ngoại v́ chỉ lưu
lại ở nước ngoài trong một thời
gian ngắn.
Tiềm năng kinh tế và chất xám của
cộng đồng người Việt hải ngoại
đă khơi dậy tham vọng của Hà Nội
muốn khống chế, kiểm soát và điều
khiển nguồn tài nguyên này nhằm phục vụ
cho mục tiêu chiến lược của đảng
cộng sản. Nghị quyết 36 của Hà Nội
được ban hành giữa năm 2004 đă
không che dấu ư đồ này.
Hà Nội biết rơ không thể
vận dụng đa số người Việt hải
ngoại ủng hộ mục tiêu chiến lược
của đảng cộng sản Việt
Nam
nên dùng phương pháp nhập nhằng.
Nhà nước cộng sản Việt
Nam
sử dụng ba nhóm Việt kiều: thân cộng,
phản chiến và tạm thời làm đại diện
cho ư nguyện của người Việt hải
ngoại. Tức là lấy thiểu số
đại diện cho đa số.
Trong dịp Tết
Ất Dậu, chính phủ Hà Nội đă đài
thọ cho các tổ chức và cá nhân Việt kiều
hoạt động cho đảng cộng sản về
thăm quê hương để ca tụng chính
sách của Nhà nước như Trịnh Cao
Sơn, Việt kiều Thái-lan; Lê Thiết Hùng,
được cử đi đào tạo tại Ba
Lan, hiện là Phó Chủ tịch Hội người
Việt Nam tại Ba Lan Đoàn kết và Hữu nghị;
Hoàng Thị Phương, Việt kiều Lào, 56 tuổi
đảng; Phạm Thanh Thủy, Ủy viên Ban chấp
hành Hội người Việt Nam tại Campuchia;
Đinh Thúy Nga, Việt kiều Thái-lan; Tiến sĩ
Đoàn Hồng Hải, nguyên Tổng thư kư Hội
người Việt Nam tại Mỹ. Họ đều
là những cán bộ do cộng sản phái đi làm
công tác ở nước ngoài. Họ
là những Việt kiều giả.
Nguyễn Ngọc Thạch du học ở Cộng
Ḥa Liên Bang Đức năm 1968 được hăng
Siemens cử về làm đại diện tại VN
từ năm 1993; Cao Văn Phú, Việt kiều Pháp
cùng gia đ́nh về nước làm ăn, sinh sống
từ cuối năm 1990; Hoàng Ngọc Phan, Việt
kiều Mỹ, Giám đốc Cty Liên Việt Mỹ
là một trong 5 Việt kiều được Bộ
Ngoại giao cấp bằng khen. Họ đều là
Việt kiều giả v́ lư do không c̣n trực tiếp
sinh hoạt trong cộng đồng người Việt
hải ngoại.
TS
Nguyễn Đăng Hưng, Việt kiều Bỉ;
TS Trần Văn Khê, Việt kiều Pháp; TS Đặng
Lương Mô, Việt kiều Nhật đều hồi
hương. Như thế, họ
cũng thuộc loại Việt kiều giả bởi
đă tách rời với cộng đồng người
Việt hải ngoại.
Nguyễn Lương
Mô phát biểu trên tờ Tuổi Trẻ 04-02-05
"Tôi quyết định hồi hương v́ sự
kêu gọi của t́nh cảm quê hương ...
trong khi đất nước ḿnh đang cần ḿnh
th́ lại đem kiến thức
làm việc cho nước ngoài th́ thật
là vô lư".
Suốt đời họ bán kỹ
năng cho ngoại quốc, nhất là ở độ
tuổi sung măn để có địa vị, danh vọng.
Nay, đến tuổi hưu lại
muốn tiếp tục bán kỹ năng cuối
đời cho cộng sản. Ai cũng có quyền
tự do buôn bán kỹ năng của ḿnh, nhưng
người có lương tri không nên che đậy
bằng những lời lẽ yêu nước,
thương dân.
Qua phát biểu của những
Việt kiều giả trên hệ thống truyền
thông quốc doanh đă phản ảnh thái độ
cam chịu làm nô lệ cho đảng cộng sản.
Báo Lao Động
08-01-05 ghi nhận đề nghị của Nguyễn
Đăng Hưng "Tôi nghĩ muốn thu hút chất
xám về Việt Nam th́ Nhà nước cần có
những chính sách cụ thể hơn tinh tế
hơn và hiệu quả hơn ... cần có một
diễn đàn nào đó để trao đổi
thông tin, để Việt kiều có thể hiến
kế".
Kế do Việt kiều hiến sẽ
được Ban Nghiên cứu khoảng 30 người
của Thủ tướng duyệt xét. Ban này gồm
toàn những gạo cội cộng sản cở tuổi
trên 70 Đào Xuân Sâm (chuyên về lư luận), Trần
Việt Phương (nguyên trợ lư Thủ tướng
Phạm Văn Đồng, chuyên về văn hoá
xă hội), Vũ Quốc Tuấn (nguyên trợ lư
Thủ tướng Vơ Văn Kiệt, chuyên về cải
cách doanh nghiệp), Vũ Đại Lược (về
chiến lược), Nguyễn Thiệu (về tài
chính ngân hàng), nguyên Phó Thủ tướng Nguyễn
Khánh (về cải cách hành chính), Lê Đăng
Doanh (về kinh tế vĩ mô) ...
Chất xám của người Việt hải
ngoại sẽ bị những chuyên gia xă hội chủ
nghĩa sàng lọc làm cho biến chất. Trong
khi đó, Hà Nội rất trân trọng đối
với chất xám không mang ḍng máu Việt
Nam
.
Hoàng Ngọc Phan bị Bộ Văn
hóa Thông tin chơi một vố khi duyệt phim Bẫy
t́nh làm mất khá nhiều tiền mà chỉ
"nén tiếng thở dài ... không dám trách móc ǵ
Bộ VHTT ... đầu tư vào điện ảnh
ở nước ta hiện nay c̣n gặp nhiều
thủ tục phiền hà và phiêu lưu mạo hiểm
quá".
Cao Văn Phú phát biểu "Khi trở về
quê hương sinh sống, đầu tư, chúng
tôi xác định, về không phải là để
thắc mắc, đ̣i hỏi, chúng tôi hiểu,
đất nước c̣n khó khăn ... đừng
kêu nữa mà hăy cứ làm đi".
Những nhà
đầu tư này cứ cúi đầu v́ đồng
tiền bất chấp tư cách con người,
như thế khác nào công cụ lao
động của đảng cộng sản.
Kiều hối
trong năm 2004, theo tin của Hà
Nội, lên trên 3 tỉ mỹ kim, xấp xỉ tiền
tài trợ của cộng đồng quốc tế
(3.4 tỉ); bằng 3/4 vốn đầu tư trực
tiếp của nước ngoài (4.2 tỉ). Đó
là 3 nguồn tài chính quan trọng nhất của Việt
Nam
.
Số kiều hối tại TPHCM trong năm
2004 gần 1.9 tỉ mỹ kim,
nhưng đưa vào đầu tư có 2%. Đa
số nằm trong két sắt hoặc ngân hàng.
Người Việt hải ngoại
nên suy xét lại giá trị kinh tế của kiều
hối.
Thứ nhất, tại sao với số tiền
tương tự, mà các nhà tài trợ quốc tế
buộc Hà Nội phải thực hiện nhiều
cải cách quan trọng, kể cả lĩnh vực
nhân quyền, trong khi người Việt hải ngoại
không hề đặt một điều kiện nào
cả?
Thứ hai, tiền gửi cho
thân nhân nhiều chỉ đọng trong ngân hàng hoặc
két sắt, gầm giường là những đồng
tiền thiếu hiểu quả kinh tế. Nên
lưu lại ở ngoại quốc để đầu
tư sẽ được bảo đảm và
sinh lợi. Gữi vừa chi tiêu đơn giản
cho gia đ́nh phải chăng là một sự tính
toán khôn ngoan?
Những người muốn
đầu tư chất xám cũng nên tự vấn.
Một là, khi bán kỹ năng
cho người ngoại quốc tại các xứ tạm
dung đều được tôn trọng và
được quyền gián tiếp quyết định
hướng đi của xă hội. Được
tự do chất vấn chỉ trích chính quyền.
Tại sao khi về Việt
Nam
lại bị khinh thường và tự tướt
bỏ quyền tự do ngôn luận?
Hai là, đem chất xám về
Việt
Nam
để làm thay đổi xă hội hay làm nô lệ
cho đảng cộng sản?
Hà Nội muốn sử dụng thiểu số
Việt kiều giả để đại diện
cho tiếng nói chung của cộng
đồng người Việt hải ngoại
trong mục tiêu phục vụ cho chiến lược
lâu dài của đảng cộng sản mà ai cũng
biết.
Tuy nhiên, có sụp
bẫy hay không c̣n tùy thuộc vào sự sáng suốt
và thận trọng của người Việt hải
ngoại vốn có quá nhiều kinh nghiệm với
cộng sản.
ĐẠI-DƯƠNG