|
“Một
ngày phiên chợ u tôi mua về đôi gà nhỏ.
Hai con gà: một trống, một mái, dáng c̣n
bé tí teo, như vừa mới ĺa đàn. Suốt
ngày chúng cứ rúc vào một góc sân và kêu
chim chíp bằng một giọng thảm thương,
ai oán!”
Đó là một đoạn văn ngắn,
trong tập truyện
O Chuột,
của Tô Hoài mà tôi đă được cô
giáo đọc cho nghe - khi c̣n thơ ấu. Tôi
tin rằng ḿnh vừa ghi lại đúng nguyên
văn, nếu không hoàn toàn đúng th́ chắc
cũng gần đúng (y) như thế. Sao tôi
cứ thương măi đôi gà nhỏ côi cút
đó, và có cảm t́nh hoài với tác giả
của đoạn văn dẫn thượng.
Tô Hoài (chắc chắn) sẽ rất sướng,
khi biết có một người đọc
đă nhớ nằm ḷng - suốt đời -
những điều ḿnh viết. Và ông ấy
sẽ bớt sướng, nếu biết thêm
rằng tôi chưa bao giờ đọc thêm một
ḍng chữ nào khác nữa của Tô Hoài.
Tôi sinh trưởng ở miền
Nam
nơi mà trẻ con không đeo khăn quàng
đỏ, không thi đua lập chiến công,
cũng không có kế hoạch (lớn - nhỏ)
nào phải hoàn thành. Chúng tôi chỉ có việc
học với chơi, và chơi mới là chuyện
chính. Tôi mải chơi quá nên không rảnh
để đọc Tô Hoài, hoặc bất cứ
ai.
Sau khi cuộc chiến Bắc -
Nam
chấm dứt, tôi có ghé vào những tiệm
sách quốc doanh nhiều lần nhưng quên bẵng
Tô Hoài. Như bao nhiêu người dân miền
Nam khác- sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 - cuộc
đời của tôi (bỗng dưng) hoá ra rất
rảnh, rất rảnh và rất … đói!
Tác phẩm duy nhất mà tôi tâm đắc, vào
thời điểm đó, là Hồ
Chí Minh Toàn Tập.
Đây là một cuốn sách rất dầy, giấy
in rất tốt, giá rất rẻ và rất
được những bà hay những cô bán
hàng rong ưa thích. Họ cần giấy để
gói , hoặc để chùi,
c̣n tôi th́ cần một phần ăn nhiều
hơn số tiền túi ḿnh có thể mua. Do
đó, dù có đói thảm thiết tôi cũng
chả bao giờ xà ngay xuống mẹt xôi hay
mẹt bánh. Tôi chịu khó đi (ḷng ṿng) mua
sách, rồi mới mang đổi lấy thức
ăn - cho đỡ khổ cái dạ dầy!
Nói t́nh ngay, lỡ có thấy những tác phẩm
của Tô Hoài - trong hoàn cảnh ấy - tôi chắc
ḿnh cũng ngó lơ. Mắt tôi lúc nào cũng
chỉ dáo giác, liếc nh́n ra biển, t́m một
đường chui.
Sau khi đă đi hết biển, khác với
nhiều người, tôi quyết định
đi luôn - cho nó chắc ăn. Lưu lạc măi,
có hôm, tôi t́nh cờ gặp lại Tô Hoài -
trong một tác phẩm phê b́nh văn học, tựa
là
Cây Bút, Đời Người,
của Vương Trí Nhàn, xuất bản năm
2002.
Bây giờ th́ tôi đủ tuổi đời,
đủ rảnh (và cũng đủ no) để
có thể t́m đọc thêm chút đỉnh về
một tác giả mà ḿnh đă yêu thích - từ
ngày c̣n bé. Và Tô Hoài nay đă thất tuần.
“Ngay
từ năm 1940, khi bắt tay làm quen với giới
sáng tác đương thời, th́ đồng
thời tác giả Dế
mèn
cũng bước vào hoạt động cách
mạng. Lúc đâu ở thời kỳ Mặt
trận b́nh dân,
ông hoạt động trong cơ sở Hội
ái hữu thợ dệt Hà Đông. Sau đó lại
được tổ chức Đảng ở
Hà Nội bắt liên lạc để h́nh
thành nên lực lượng Văn hoá cứu
quốc.”
“Tiếp
đó, từ sau 1945, những hoạt động
xă hội của nhà văn ngày một đa dạng.
Triển khai theo chiều rộng, có lúc ông trở
thành cán bộ địa phương, có thời
gian đi cải cách ruộng đất, đi
học trường Đảng, nhiều
năm làm đối ngoại nhân dân, đồng
thời vẫn giữ chân trưởng ban
đại biểu dân phố (1956-1972) ở cơ
quan văn nghệ trên Trung ương hay ở
Hà Nội, hầu như từ năm 1946 tới
nay, khoá nào ông cũng được bầu làm
bí thư chi bộ, đảng bộ.”
“Mặt
khác, ngay trong giới cầm bút, ông cũng luôn
luôn có hoạt động xă hội của
ḿnh, khi là Phó Tổng thư kư Hội Nhà Văn,
khi chủ tịch Hội Văn nghệ Hà Nội,
từ đó đẻ ra cơ man nào là đầu
việc, là họp hành, mà người ta gọi
chung là ông tác” (sđd 264).
Tiểu
sử Tô Hoài (như thế) có vẻ lung tung
lang tang, ngổn ngang cả đống chức
vụ, nhưng không để lại một
ấn tượng đậm nét nào về
đời người và cây bút của ông.
Tô Hoài như luôn bị nhấn ch́m vào những
đoàn đội hay đoàn thể (vớ vẩn)
ǵ đó, “với cơ man nào là đầu
việc”. Toàn là những công việc chán
ngán và nhạt nhẽo, tôi đoán thế.
Tôi lầm. Được thế th́ đă
phúc.
Cuộc đời của Tô Hoài chán ngán (hẳn)
có thừa nhưng nhạt nhẽo th́ chưa
chắc, và đắng chát với tủi nhục
(xem ra) không thiếu - nếu vẫn theo như
ghi nhận của nhà phê b́nh văn học
Vuơng Trí Nhàn:
“….
bao nhiêu từng trải, như c̣n in dấu
vào cách sống, cách chuyện tṛ của Tô
Hoài hôm nay, bên cạnh cái nhũn nhặn lảng
tránh, con người ấy thật cũng
đă nhiều phen phải dàn mặt, phải
chịu trận, nói chung là phải đối
chọi với đời và nếu như có
lúc phải đầu hàng th́ đó cũng là
bước đường cùng, rồi, nín nhịn
chẳng qua để tồn tại, và sau hết,
để được viết”.
“Ấy là cái điều không chỉ Tô Hoài
biết mà nhiều người cũng biết…”
Đại khái có thể h́nh dung như cái cảnh
đứa bé bị qùy, th́ cũng quỳ
đấy, song mắt vẫn liếc về phía
mọi người đùa bỡn. Xá ǵ chuyện
này, qùy cho xong nợ, tí nữa lại tha hồ
tung tẩy” (sđd 266).
Dù
chỉ là một thường dân (chứ chả
phải nhà văn hay nhà báo ǵ ráo) tôi cũng
muốn ứa nước mắt xót xa cho “cây
bút” và “đời người” của Tô
Hoài, khi biết rằng - đôi lúc - ông vẫn
phải qùy như thế. Tôi c̣n e rằng Vuơng
Trí Nhàn chỉ khéo miệng mà nói thế (để
đỡ tủi cho nhau) chứ chuyện “đùa
bỡn” và “tha hồ tung tẩy” dễ ǵ
t́m được trong “đời người”
và “cây bút” của Tô Hoài!
Đến như Nguyễn Tuân - dù vốn tính
bất tuân - khi phải mặc đồng phục,
trông cũng rúm ró và thảm hại chả
kém ǵ cái h́nh ảnh Tô Hoài phải chịu
qùi:
"Từ
sau 1945, với thiên lương và tinh thần
yêu nước sẵn có, Nguyễn Tuân lại
nhanh chóng phục thiện, để đứng
vào hàng ngũ Cách mạng. Con người chủ
yếu ở ông, từ nay, là con người cán
bộ, con người chiến sĩ, nghĩa là
thành viên của một tập thể có kỷ
luật, tập thể ấy phấn đấu
cho một lư tuởng nhất định, nên mỗi
thành viên trong đó phải làm tất cả
để đóng góp cho sự nghiệp
chung" (sđd 215).
Cái
được mệnh danh là “lư tưởng
nhất định” và “sự nghiệp chung”
đó là những thứ (thổ tả) ǵ vậy,
hả Giời?
Dù là ǵ đi nữa, sự “phục thiện”
của Nguyễn Tuân cũng đă đuợc
đánh giá cao:
“Nguời nặng căn như thế, mà
đi theo cách mạng, chuyển cũng đă
ghê đấy chứ” (sđd 226).
Ghê khỉ ǵ? Không “chuyển” mà được
à? Và chính Nguyễn Tuân biết rơ điều
này hơn bất cứ ai :
“Tao
mà c̣n sống được đến ngày
nay để cầm bút là nhờ tao biết sợ
chúng mày ạ”
(Xuân Vũ. Văn Nghệ Sĩ Miền Bắc
Như Tôi Biết.
Westminster
: Người Việt, 1991).
Mà sợ là phải … giá. Thời phải thế,
thế thời phải thế. Tránh voi chả
xấu mặt nào. Mà cỡ voi th́ sức vóc
có ra ǵ, nếu so với sức mạnh chuyên
chính vô sản. Trêu vào chúngï có mà bỏ mẹ;
không chừng, c̣n bỏ mạng luôn ấy chứ.
“Sự
dă man qủi quyệt mánh lới và sự bất
nhân của họ chưa hề thấy trong lịch
sử của loài người”
(Nguyễn Mạnh Tường. Kẻ Bị Vạ
Tuyệt Thông.
Paris
: Quê Mẹ, 1977). Sĩ khí đến như
Nguyễn Mạnh Tường mà c̣n phải rấm
rứt khóc thầm (bằng tiếng Pháp) th́
xá ǵ cỡ Nguyễn Tuân.
Ở vào hoàn cảnh đó, mới hiểu và
thông cảm cho sự cuống cuồng của
một người - vốn tính đồng bóng
và yếu bóng vía - như Xuân Diệu:
“Xuân
Diệu sợ chúng tôi say sưa quá, bốc
đồng quá tử v́ đạo, rồi không
giữ được ng̣i bút của ḿnh. Hơn
ai hết, ông hiểu về những lưỡi
gươm Damoclès thường xuyên treo trên
đầu người làm văn nghệ. Khi nói
chuyện này đột nhiên giọng ông đột
nhiên nhỏ hẳn đi, khe khẽ th́ thào. Rồi
ông lắc đầu, ông le lưỡi, ư bảo
rằng sợ lắm, mà cỡ các cậu th́
càng phải nên biết sợ ngay th́ vừa,
nên nhớ là sau có hối cũng không kịp
nữa”
(Vương T.N. 295).
Xuân
Diệu đă chết. Cái cung cách và thái độ
“đột nhiên giọng nhỏ hẳn đi”,
“khe khẽ th́ thào”, “lắc đầu”,
“le lươi” cũng … chết luôn. Thế hệ
của những người cầm bút kế
tiếp, không có vẻ ǵ là hào hứng và chịu
tiếp nhận sự khiếp đảm mà
Xuân Diệu muốn truyền đạt cho họ.
Họ không mấy khi “say sưa quá” hay “bốc
đồng quá”, như Xuân Diệu lo sợ.
Không ai “tử v́ đạo”, như Nguyễn
Chí Thiện hay Phùng Cung. Cũng không ai chịu
chơi tới cỡ “không làm nhà” v́ “mắc
làm người”, như kiểu Hữu Loan. Và
hăi sợ th́ cũng không luôn.
Những tác phẩm văn học đột ngột
xuất hiện và được nhiệt liệt
đón nhận, vào thời kỳ cởi trói,
không phải là những sáng tác qua đêm.
Đó đều là những “nỗi đau”
đă đượcï ấp ủ và “chưng
cất” - theo như cách nói của thi sĩ
Dương Tường (http://www.talawas.org/tranhluan/tl329.html).
Đến khi những kẻ nắm quyền
đổi ư, muốn trói cả đám trở
lại y như cũ, nhiều người
đă không chịu đưa tay ra nữa. Trong
cuộc Hành
Tŕnh Cuối Đông
năm 1988, Bùi Minh Quốc và Tiêu Dao Bảo Cự
đă thu thập được 118 chữ kư -
của giới văn nghệ ở các địa
phương - đ̣i được quyền tự
do báo chí và xuất bản.
Không trói được tay th́ họ xoay ra cột
chân, biến một số tư thất thành
lao thất, bằng nghị định 31/CP. Nó
ngang nhiên cho phép quản chế hành chánh, không
cần xét xử, những người có “hành
vi vi phạm pháp luật, xâm phạm đến
an ninh quốc gia, nhưng chưa đến mức
truy cứu trách nhiệm h́nh sự”. Nạn
nhân sẽ bị quản thúc, công an đến
gác nhà, điện thoại bị cắt,
ngăn cấm mọi sự tiếp xúc…
Cái xiềng 31/CP đă giam được Bùi
Minh Quốc, Tiêu Dao Bảo Cự, Hà Sĩ Phu
… nhưng không lọt chân ông Trần Khuê.
Ông ấy, rơ ràng, quá khổ. Đă (hơi) quá
khổ mà c̣n quá quắt nữa. Trần Khuê
đ̣i đổi tên Nước, tên Đảng,
đ̣i hủy bỏ điều 4 hiến pháp,
đ̣i Trường Chinh phải xin lỗi ông
Kim Ngọc (bí thư tỉnh ủy Vĩng Phú,
tác giả của Khoán 10), đ̣i Tố Hữu
phải xin lỗi những văn nghệ sĩ
trong nhóm Nhân Văn, đ̣i Lê Đức Thọ
phải xin lỗi những người trong “vụ
án xét lại”, đ̣i lập Hội Chống
Tham Nhũng … Nói tóm lại là Trần Khuê
không để cho bất - cứ - cái - ǵ và bất
- cứ - ai được nằm yên, kể cả
những người đă khuất:
“Chúng
ta đề nghị Tổng cục thống kê
và Bộ tài chính thử tính sổ xem 30 năm
qua ta đă tiêu tốn vào lăng Người
tổng số là bao nhiêu tiền của… Và
thử xem riêng ngân sách dụ chi cho năm 2000
xem có thể xây được bao nhiêu trường
học cho một ngàn xă hăy c̣n tắng về
giáo dục ở miền cao. Có thể xây bao
nhiêu căn nhà để nuôi trẻ mồ côi
… Có thể xây bao căn nhà dưỡng lăo
cho người già lăo cô đơn, không nơi
nương tựa. Có thê xây bao nhiêu nhà thương
làm phúc chữa bệnh cho người nghèo
…”
(Trần Khuê - Nguyễn Thị Thanh Xuân *, Đối
Thoại Năm 2000).
Đến
cỡ như bác Hồ (dù đă mồ yên mả
đẹp) mà Trần Khuê c̣n không tha th́ có ai
khác mà không bị … làm phiền. Mọi kẻ
có chức quyền, từ Tổng Bí Thư trở
xuống (kể cả ông TBT Giang Trạch Dân của
nuớc bạn Trung Hoa vĩ đại) đều
bị Trần Khuê mang ra hỏi tội và chửi
mắng xối xả v́ sự ngu dốt, cũng
như tội gian tham - của từng người
một!
Sự xuất hiện đột ngột và dũng
cảm của ông Trần Khuê khiến tôi vô
cùng cảm khái.
Như đă thưa, tôi sinh trưởng ở
miền
Nam
. Trong thời gian đất nước chia cắt,
tôi đă hụt mất phần văn học
xă hội chủ nghĩa của miền Bắc.
Khi đất nước thống nhất “Nam
- Bắc hoà lời ca”, tôi “ca” không nổi
nên đă bỏ chạy.
Ở nước ngoài, khi có dịp t́m hiểu
văn học cách mạng, tôi khám phá ra rằng
văn nghệ sĩ và trí thức miền Bắc
(phần lớn) đều xếp hàng, mặc
đồng phục và chịu qùi gối trong
thời chiến. Đến thời b́nh, họ
vẫn tiếp tục sống với những
cảnh đời hoàn toàn “không
như ư muốn”,
với niềm an ủi rằng
“trải
qua hai cuộc chiến tranh ḿnh c̣n được
sống được làm thơ, c̣n may mắn
hơn khối người khác, thế là
được rồi”
(Vương T. N. 209).
Vậy mà nói “được” sao, mấy
cha? Chớ bộ hai cuộc chiến tranh “dành
độc lập” và “giải phóng đất
nước” vừa rồi (với biết bao
nhiêu là máu xương, tang thương, đổ
vỡ) kể như là đồ bỏ hả?
Sự thoả hiệp dễ dăi đến
độ thê thảm như thế, của cả
một giới người, trước cường
quyền và bạo lực, rơ ràng, là điều
(vô cùng) tủi nhục.
Ông Trần Khuê đă “tạm chữa”
được cái nhục đó. Nếu đă
có một thời mà “những
lưỡi gươm Damoclès thường xuyên
treo trên đầu người làm văn nghệ”
th́
cũng đă có lúc ng̣i bút sắc như
gươm của Trần Khuê đă thường
xuyên treo trên đầu của giới cầm
quyền ở Việt Nam.
Và sự “nhịn nhục” của nhà
đương cuộc Hà Nội trước
thái độ cương trực của Trần
Khuê, cũng như của Phạm Quế
Dương, khiến tôi nhớ lại một
câu thơ - đă đọc được
đâu đó - của Văn Cao: "Con ơi,
gió đă chuyển".
Yes, it does.
|