Xin
một đóa hồng
Nhân ngày lứa đôi hạnh phúc
VALENTINE’S DAY
viết
tặng bạn bè Trung Học Phan Bội Châu Phan
Thiết
riêng Mai Minh, Châu Lư, An Phạm, Mai Phạm, Thuư
Hiêp, Hoàng Hậu, Kim Dân..
T́nh yêu là cái quái ǵ mà nhân loại xưa
nay, từ các bậc đế vương, phi tần,
quan quyền cao sang quư phái, cho tới những anh
hùng liệt nữ ngất ngưởng hiên ngang
và ngay cả hàng thứ dân b́nh thường.. hầu
như ai cũng bị tiếng sét con tim, làm cho lận
đận lao đao, dở sống dở chết,
thân bại danh liệt, khi đă lở vướng
lụy vào lưới t́nh. Bao nhiêu bi kịch năo
ḷng, buồn rầu tới độ phải chảy
máu mắt đêm ngày, cũng chỉ v́ yêu, ghen,
thương, hận. Nói chung không ai có thể ngăn
nổi ‘ t́nh yêu trai gái’, khi họ đă quyết
ḷng gắn bó keo sơn, mặc kệ ‘ ngày mai sẽ
ra sao ‘khi đă đam mê vướng lụy vào
lưới t́nh. Do trên mới có câu ‘ khi đă
yêu rồi, trời gầm cũng không nhà ‘ là vậy
đó.
Nên đă có không biết bao nhiêu trang sử
t́nh bi thiết cổ kim, làm đau ḷng hâu thế,
như chuyện của Juliet-Roméo, Cléopatra-Antone, Dương
Quư Phi-An lôc Sơn, Trương Chi-Mỵ
Nương, Mỹ Châu-Trọng Thủy, Trần
Huyền Trân-Khắc Chung và ngàn muôn câu chuyện
diễm t́nh khác, cũng không kém thuơng đau máu
lệ.
Như vậy t́nh yêu là ǵ ? đố ai trả
lời được, dù ai cũng đă ít nhất
một lần là người trong cuộc. Đă có
nhiều người bảo : Đó là thứ thần
dược, chữa trị được nhiều
thứ bệnh. Là mầm bệnh yếu đuối,
do trái tim gây ra, là sự khôn ngoan của kẻ khờ,
là mù quáng, là thuốc phiện cũng như vị
ngọt của trái cấm trong vườn địa
đàng. Nhiều người đă chịu khó
góp nhặt những t́nh huống, kinh nghiệm
trong t́nh sử, rồi phân hạng thành sáu loại
t́nh yêu : 1-T́nh yêu của “ chàng-nàng” hay “ Eros
“, một kiểu t́nh lăng mạn . 2- “ Leudus”,
chỉ thứ t́nh đổi thay như ta thay quần
áo hằng ngày. 3- “ Storge “ là thứ t́nh yêu
chân thật, phát xuất từ mối t́nh thơ
theo kiểu “ nhà nàng ở cạnh nhà tôi “ hay
đă nhun nhén t́nh cảm lúc c̣n học chung dưới
một mái trường. 4- “ Mania “ là loại
t́nh yêu cuồng mê si dại, v́ thế một
trong hai khi quá đam mê, có thể giết người
như Orhello đối với Deodemona. 5- “Pragma”
kiểu t́nh yêu môn đăng hộ đối.
6- “Agape” kiểu t́nh yêu cao thượng của
các bậc anh hùng-anh thư, v́ kẻ khác mà quên
t́nh ḿnh.
Buổi trước các khoa học gia đă
lẩn trốn sự phân tích t́nh yêu, v́ cho rằng
nó thuộc phạm trù của những văn nghệ
sỹ, vốn là thành phần rất ướt
át, ủy mị, thích thương mây khóc gió,
nên hay lo chuyện nhân thế tàng tàng, một
trái ngược với bản chất khô cằn
của các nhà khoa học. Nhưng giờ này, con
người đă phải nương tựa vào
nhau mà sinh tồn, nên không c̣n phải chia vùng,
phân biện các bộ môn y tế, xă hội, nhân
chủng học.. Tất cả không nhiều th́
ít, đều có liên hệ tới chuyện yêu
đưong trai gái.. v́ vậy thành kiến ngoại
cuộc trên, đă bị đánh đổ. Do trên
hiện có rất nhiều khoa học gia, trong số
này có những nữ bác học, đă khai quật
được từ trong sâu thẳm của nấm
mộ thơi gian, nhiều bí mật lạ lùng về
t́nh cảm con người về nụ hôn, t́nh dục,
sửa sang sắc đẹp.. mục đích cũng
vẫn là để giữ ǵn lứa đôi hạnh
phúc.
Năm 1997, nhân ngày VALENTIME’S DAY, các khoa học
gia Hoa Kỳ trong tổ chức “American Association
for the Advancement of Science “đă nhóm hợp tại
thành phố Seatle, tiểu bang Washington, để
tuyên bố : “ T́nh yêu lăng mạn của nhân
sinh kim-cổ, động-tây, chẳng qua chỉ
là những chuỗi phản ứng hóa học mà
thôi “.
Đúng hay sai chỉ có trời biết, trong khi
nhân loại cứ vẫn đút đầu vào
cái tḥng lọng của thần t́nh ái, để
chịu khổ, chịu chết v́ t́nh yêu.:
‘..gió hiu hắt mà hồn đơn cũng
lạnh
mưa phất phơ sao vẫn buốt thịt
da
môi chưa chạm, t́nh đă vội chia xa
tay chực nắm, người cay chua từ
chối.. ’ ’
1- V̀ CHÀNG THIẾP PHẢI
TÔ HỒNG, CHUỐC LỤC :
Muôn
đời sắc đẹp của người
phụ nữ, cũng vẫn là ch́a khóa để
nắm bắt t́nh yêu, mở đường cho hôn
nhân và duy tŕ lứa đôi hạnh phúc. Thực
tế không có gă đan ông khùng điên nào, lại
chọn cho ḿnh người yêu, người vợ
cỡ cô bé lọ lem, Thị Nở hay bà chằng
Chung Vô Diệm. Nên những câu chuyện t́nh lư tưởng,
chỉ có trong tiểu thuyết hoặc họa hoằn
lắm mới có trong đời thường.
Do quan niệm trên, để kiếm cho ḿnh
một tấm chồng xứng đáng hầu nở
mày nở mặt với thiên hạ. Nên người
con gái nào khi đến tuổi cặp kê, cũng
đều biết tự lam đẹp. Bởi vậy
khoa thẩm mỹ học đă ra đời từ
khuya, chứ không mới mẻ ǵ. Ngày nay con người
chỉ phát minh thêm, kỹ thuật xóa vết nhăn,
trồng tóc, hút mỡ, độn ngực và cấy,
ghép da, mỡ, các bộ phận trong thế kỷ
XX. Tất cả chỉ là sự tiếp nối
những công tŕnh làm đẹp phái nữ tự
ngàn xưa, của các thầy thuốc cổ Ai Cập,
Hy Lạp, Âu Châu vào thời phục hưng.
Nhờ các công tŕnh khảo cổ, ta mới
biết con người đă tự làm dáng vào năm
3000 trước tây lịch (TrTL) tại Ai Cập
nhưng chỉ thu hẹp trong chốn cung đ́nh,
với các thành phần vua chúa, hoàng hậu, phi tần
và triều thần. Theo tài liệu cho biết, bộ
phận đầu tiên được sữa,
đó là chiếc mũi trên khuôn mặt. Vào thế
kỷ XIX, một khoa học gia Mỹ tên Edwin
Smith, đă phát hiện được một cuộn
giấy, gọi là Papyrus dài 5m, trên đó có vẽ
h́nh một chiếc mũi vẹo, được
giải phẫu và phục hồi, bởi một
thầy thuốc kiêm kiến trúc sư tên Imhotep.
Chính ông đă giúp vua Ai Cập Zoser, xây kim tự
tháp lừng danh Saqqarab và là người thầy
thuốc đầu tiên, nghĩ ra cách lấy những
cục huyết đọng trong mũi, khi giải
phẫu. Nhưng chính vị thầy thuốc ngựi
Ấn Độ tên Sushruta, sống trong thế kỷ
VII trước TL, mới là cha đẻ của
ngành Thẩm Mỹ Học và Khoa Giải Phẫu
Tạo H́nh. Tại Ấn Độ thời đó,
ông là vị thầy thuốc duy nhất, phục
hồi Mũi lại cho các phụ nữ bị xẽo,
v́ mang tội ngoại t́nh.
Riêng về bộ ngực, th́ do thầy thuốc
người Hy Lạp là Paul D.Eginee, sống vào khoảng
thế kỷ thứ VI sau TL, chuyên sửa lại
các bộ ngực quá to của nam giới. Riêng phụ
nữ, phải đợi tới năm 1897, thầy
thuốc tên Michel Pouson, là người đầu
tiên làm đẹp bộ ngực nữ phái. Trong
thời phục hưng, đă có nhiều thầy
thuốc tuy xuất thân từ giới giang hồ
lăng tử như Ambroise Paré (thợ hớt tóc),
Pièrre Franco (bán thuốc dạo), nhưng lại là
những kẻ tiền phong, mở đường
cho khoa giải phẫu thẩm mỹ, trong việc
chữa trị các vết bỏng trên làn da, đồng
thời kiêm nghề vá môi, mắt.
Tại phương đông, người Trung
Hoa là dân tộc đầu tiên đă biết tới
thuật mỹ dung. Thời Xuân-Thu Chiến-Quốc
vào khoảng thế kỷ 6-5 trước TL,
người phụ nữ đă biết trang
điểm bằng phấn sáp. Bộ sách ‘ Thần
Nông Bản Thảo Kinh ‘ xuất hiện đời
Tần-Hán, phổ biến các dược thảo
như ‘ Bạch chỉ ‘ để giữ da,
‘ Bạch cương ‘ trừ tàn nhang. Riêng cac
loại dược chất ‘ Can tùy hương,
Bạch đàn, Bạch truật, Thanh mộc hương
.. ’ ’ có tác dụng giữ làn da mặt phụ
nữ, luôn luôn trắng trẻo xinh đẹp.
Ngoài ra c̣n nhiều bộ sách quư khác như Cát Hồng
Thần Dược (đời Tấn), Bí Cấp
Thiên-Kim Yến-Phượng (đời Đường),
Thái B́nh Thánh Huệ Thời Trần (đời
Minh).. chứa một nội dung phong phú, nhằm hướng
dẫn phụ nữ , cách giữ ǵn và kéo dài
nét đẹp của ḿnh, bất luận tuổi
tác, thời gian.
Về phương pháp kẽ lông mày, bới
tóc, tô mắt môi.. người phụ nữ Tàu,
cũng đă biết từ thời Hậu Hán.
Thuở đó, người phụ nữ đất
Trường An, có khuynh hướng vẽ nửa
ṿng mắt dưới chỗ lệ rơi, gọi
là ‘ Đề Trang ‘.Đồng thời lại tô
thêm một lớp phấn sáp mỏng dưới
con mắt. Đây là lối trang điểm kiểu
‘ mày buồn diểm lệ’, rất được
ưa thích, nên đă có bài phong dao ca tụng :
‘ Thành trung hảo cao kế
Tứ phương cao nhất xích
Thành trung hảo quang mi
Tứ phương thẻ bán ngạch ‘
Có
nghĩa là, búi tóc của người Trường
An mới hơi cao một chút, th́ cả nước
đă nâng cao lên cả thước (đơn vị
đo đạc cổ của Tàu). C̣n lông mày của
người Trường An vừa nới rộng
, th́ cả nước đă vẽ dài ra tới
nửa trán. Ư tứ của bài phong dao trên, phần
nào cho ta hiểu cách làm đẹp của người
phụ nữ buổi đó. Đời Đường,
Chu Khánh Dư đă viết một bài thơ nổi
tiếng, ca tụng nghệ thuật tô vẽ lông
mày của ‘ chàng-nàng’ trong chốn pḥng the :
‘Động pḥng tác dạ, đ́nh hồng
chúc
Đái hiến đường tiền bái cữu
cô
Trang bài đề thanh văn phu tế
Họa my thâm thiểm, nhập thời vô..
’ ’
Bài
thơ có nghĩa là, đêm động pḥng hoa
chúc, sáng dậy trang điểm để ra hầu
cha mẹ chồng, nàng hỏi chàng ‘ em kẻ
lông mày như thế này có được không ?’.
Cũng từ các tài liệu cổ c̣n sót lại,
cho biết người phụ nữ Trung Hoa thời
xưa đă biết chế tạo ‘ phấn xoa
mặt ‘ bằng gạo. Ngoài ra c̣n biết xỏ
lỗ tai để đeo các đồ trang sức
làm bằng vàng ngọc hay búi tóc giả. Độc
đáo nhất là ‘ Lạc Mai Trang Sức ‘, một
nghệ thuật cắt lụa ngũ sắc, lá
cây hay giấy màu, làm thành những cánh hoa mai
để dán trên khuôn mặt. Song song người
ta c̣n uống thêm các loại thuốc giữ sắc
đẹp, gọi chung là ‘Trà Mỹ Dung’, đặc
chế bằng hạt Hoàng Hoa, c̣n gọi là ‘ Đồng
Tích Lợi ‘.Riêng Từ Hy Thái Hậu đời
nhà Thanh, có một thang mật, được ghi
trong Tuyển tập Từ Hy. Nhờ dược
liệu này, mà khuôn mặt của bà hoàng luôn
luôn tươi mát, như đang độ thanh xuân.
Nhưng độc đáo hơn hết trong
nghệ thuật làm đẹp của người
đàn bà Trung Hoa thời xưa, là ‘ Tục Bó
Chân ‘.Tục này đă kéo dài từ thời thương
cổ cho tới năm đầu của Dân quốc
1911 mới chấm dứt trên giấy tờ. Về
xuất xứ của tục bó chân, hiện có rất
nhiều giả thuyết như thuyết cho rằng
bó chân do Hồ Hỷ Mị, bạn của Đắc
Kỷ nghĩ ra đầu tiên. V́ cả hai đều
là phi tần được Trụ Vương
đời Thương sủng ái nhưng lại
xuất thân từ thú cầm : Đắc Kỷ gốc
chồn, c̣n Hỷ Mị là hạc, v́ muốn dấu
đôi chân thú nên phải bó kín lại. Thuyết
khác cho rằng bó chân có từ thời Triệu
Phi Yến, cung phi của vua Hán Thành Đế. Nhưng
dù có nguồn gốc từ đâu chăng nửa,
đối với quan niệm thẩm mỹ
xưa của người Trung Hoa, đều thừa
nhận rằng, bất cứ người con gái
nào, càng có bàn chân mềm nhỏ, th́ càng đi
đứng uyển chuyển trang đài, gợi
t́nh quư phái, khiến cho ai thấy cũng đem ḷng
ái mộ. Những thành ngữ “ tam thốn Kim
Liên ‘ hay mỹ danh ‘ Kim Liên’, được rút
ra từ điển tích thời Nam-Bắc triều
(907-960), kể chuyện hôn quân Tiền Bảo Quyền,
v́ đam mê đắm đuối gót chân nhỏ
của nàng Phan Giáng Phi, nên ra lệnh tịch thu hết
vàng bạc của dân chúng trong nước, rồi
đem đúc thành những đoá hoa sen lót trên
thảm, cho người đẹp bước
đi. Đời sau gọi đó là bộ ‘ Sinh
Liên Hoa’ có nghĩa là gót sen nở rộ. Có lẽ
căn cứ vào điển tích trên, nên nhà văn
Lâm ngữ Đường,cho rằng tục bó chân
phát xuất từ thời Nam-Bắc Triều. Về
sau các nhà khoa học tây phương khi nghiên cứu
về tục bó chân của cổ Trung Hoa, cho rằng
tục này có liên hệ tới vấn đề
t́nh dục. Quan điểm này cũng rất phù
hợp với nhận xét của Lư Lạp Ông thuở
trước. Theo ông, dụng ư của đôi bàn
chân nhỏ, chỉ là để được
cưng chiều ban ngày, ve vuốt ban đêm, mà
điển h́nh là nhân vật Phan Kim Liên trong Thủy
Hử truyện, chỉ v́ có đôi bàn chân nhỏ
đẹp, nên đă khiến cho gả Tây Môn
Khách phải đắm đuối chết người.
Trong tác phẩm ‘ Hương Liên Phẩm Tảo’,
tác giả có nói tới phong trào nam giới thời
Minh-Thanh, rất say mê gót sen của những ả
ca kỹ, đến độ nhiều người
đă dùng chiếc hài của người đẹp
để uống rượu, gọi là ‘ Kim
Liên Bôi’. Sự say mê thích thú đó, tạo nên
quan niệm cho rằng, đôi bàn chân của phụ
nữ , mới chính là nơi gợi t́nh nhất
của phái đẹp.
Tuy nhiên muốn có một đôi bàn chân xinh
xắn lư tưởng, người con gái Trung Hoa
phải sống trong địa ngục trần
gian, v́ tự ḿnh hành hạ thân xác ḿnh, trong ba năm
dài, khi vừa mới lên 3-4 tuổi. Tục bó
chân gồm có 4 giai đoạn như Thí triển,
Thí khẩu, Khẩu triển và Lư loan. Tóm lại
dù thuộc giai đoạn nào chăng nửa, th́
người con gái trong thời gian bó chân, cũng
đều chịu nỗi đau đớn tột
cùng, mà không bút mực nào diễn tả cho hết
được. Cũng v́ đôi bàn chân phải
bó thường xuyên, làm mồ hôi ứ đọng
bên trong, tạo nên mùi hôi thúi không chịu
được (xú như lư cước hổ). Do
trên các người đẹp bó chân ngày xưa,
luôn dùng một loại phấn có tên ‘Hương
Liên Táo’cho vào giầy, để gót sen luôn luôn
thơm tho quyến rũ.
Vào thế kỷ XIX tại Châu Âu, xuất
hiện phong trào phụ nữ làm đẹp với
châm ngôn ‘ MĂNH MAI, CHÂN DÀI và CHIẾC LƯNG ONG
‘ Do đó các cô các bà, nhất là giới mệnh
phụ phu nhân, quư tộc.. đều t́m đủ
mọi cách làm cho bụng nhỏ lại. Họ nhịn
ăn, kiêng cử, tập thể dục và dùng một
chiếc nịt, có tên ‘ Chiếc Thắt Lưng
CORSET ‘ bó chiếc bụng lại, để
đạt được ṿng eo lư tưởng lúc
đó là Bốn Mươi Phân. Nhờ sự bó
sát phần giữa, khiến cho ngực và mông, bị
dồn nén tối đa làm tăng thêm nét hấp
dẫn, khi vận chiếc váy phồng hay váy ngắn.
Cũng v́ muốn đạt ṿng eo, nên tự
ḿnh dồn ép quá mức, năm 1859 một mệnh
phụ người Pháp, sau khi dự tiệc tùng,
khiêu vũ liên tục trong 2 ngày đêm, bổng lăng
đùng ra chết. Nguyên do lưng bị chiếc
Corset bó chặt quá, làm găy 3 chiếc xương
sườn và chính những chiếc xương găy
này, đă đâm bể gan. Thảm kịch trên
được báo chí cảnh cáo nhưng không ai
muốn nghe và chiếc lưng ong của các mệnh
phụ cứ nhởn nhơ xuất hiện, cho tới
đầu thế kỷ XX, quan niệm thời
trang thay đổi, nó mới chịu vứt vào
quá khứ.
Thật ra chiếc lưng ong của phụ nữ
đâu có ǵ là mới mẻ, v́ nó đă xuất
hiện tại Trung Hoa từ đời Sở
trước tây lịch. Có vậy nên thi hào Đổ
Phủ đời Đường đă viết ‘
Khiển Hoài ‘ để ca tụng những chiêc
lưng ong nho nhỏ, thon thon nhưng vô cùng xinh
đẹp : ‘ Lạc phách giang hồ, tái tửu
hành ố Sở yêu tiệm tế chưởng
trung khinh ‘ ư nói đeo đẳng giang hồ
rượu nách lưng, trong tay ôm nhẹ gái lưng
ong, Cũng theo tài liệu cũ, thời xưa
đàn ông Đông phương, có quan niệm xem nhẹ
bộ ngực phụ nữ, trái ngược với
thời trang thẩm mỹ ngày nay. Cho nên chỉ
thấy nói tới : Hồng diện, Đa dâm thủy,
thanh mi, Hậu hộ mao, Tế yêu (lưng ong), Âm
Huyệt đại và Trường Túc ( chân dài)
mà thôi. Tóm lại hoàn toàn khác với ngày nay ‘
NAM TU, NỮ NHŨ ‘.
2-Ư NGHĨA CỦA NGÀY
T̀NH YÊU :
Tháng
10-1996, GS Timotly Thylar, một chuyên viên về khảo
cổ và nhân chủng học tại Đại Học
Cambridge Anh Quốc, đă phát hành tác phẩm ‘T́nh
Dục Thời Tiền Sử’, từ khảo
nghiệm của một xác ướp vừa t́m
thấy tại vùng biên giới Áo-Ư, xác này sống
cách đây khoảng 5000 năm. Qua tài liệu,
tác giả đưa ra các chứng minh về sinh
hoạt t́nh dục của người tiền sử.
Theo đó, họ chẳng những biết
được chuyện trai gái pḥng the, mà c̣n nghĩ
được nhiều phương cách làm thỏa
măn t́nh dục. Quyển sách trên c̣n chứng minh
người t́nh sử, đă biết phân biệt
thế nào là Ái ân t́nh tự, Sự truyền giống,
Sinh đẻ. Tất cả xảy ra trước,
mở đường để cho các dân tộc
Cổ Ai Cập, Hy Lạp, La Mă.. biết sử dụng
thuốc ngừa thai. Ngoài ra, các nhà khảo cổ
c̣n phát hiện được nhiều tài liệu
cũng như hiện vật, cách đây mấy
ngàn năm, họ đă biết sử dụng
cây cỏ để làm chất kích dục, như
cây mồ hôi có tác dụng trị bệnh thông
thường của phụ nữ trước ngày
có kinh, đồng thời c̣n là loại thuốc
kích dục rất hiệu nghiệm.
Các nhà khảo cổ cũng đă t́m thấy
nhiều tượng phụ nữ khỏa thân thời
tiền sử, được nghệ nhân tạc
rất linh động và khiêu gợi, nổi bậc
ở phần bộ phận sinh dục. Tại
Pháp, các nhà khoa học c̣n t́m được một
cây gậy, hai đầu có tạc h́nh cơ quan
sinh dục đàn ông, trong tư thế Dordongac, dài
từ 10-18cm, mà Timothy cho rằng , đây là dụng
cụ để các phụ nữ tiền sử tự
thỏa măn t́nh dục. Đây cũng là vật dụng
mà các bộ lạc, dùng để phá trinh các thiếu
nữ trong các cuộc tế lễ. Tại Varna-Bảo
Gia Lợi, cũng t́m thấy một chiếc bao bằng
vàng đă lũng đầu, nằm giữa hai
đùi một bức tượng nam, mà các nhà
khoa học cho rằng, đây chính là h́nh thức
chiếc bao cao su ngừa thai thời nay, phù hợp
với sinh hoạt của phụ nữ lúc đó,
phải làm việc để sinh tồn, nên cần
ngừa thai cai đẻ.
Trong ngày lễ Valentine’s năm ngoái, lúc nam
nữ trên thế giới đang tưng bừng
ăn mừng vui chơi, để kỷ niệm
cuộc t́nh của ḿnh, th́ các nhà khoa học Mỹ
trong tổ chức ‘ American Association for the
Advancement of science ‘ lại tuyên bố rằng ‘
chuyện t́nh lảng mạng xưa nay cuả trai
gái, chẳng là cái quái ǵ cả, v́ đó chỉ
là phản ứng hóa học của cơ thể,
không hơn không kém ‘.
Lời tuyên bố trên đă làm các vị
thức giả bất b́nh, v́ với họ th́
t́nh yêu là một biểu tượng thiêng liêng
nhất của con người, mà chưa ai định
nghĩa nổi. Đó là sự phát sinh nảy nở,
do rung động của trái tim sâu thẳm, tạo
nên các trạng thái yêu, ghen, hờn, hận và
đam mê. Bởi vậy t́nh yêu làm sao có thể
phát sinh từ ống nghiệm ?
Rồi th́ càng ngày càng có nhiều nhà khoa học
nhập cuộc, đưa thêm các minh chứng
làm nền tảng cho lời tuyên bố trên, như
bác sỹ người Úc Tony Furmar khi cho rằng :’
trong tiềm thức của con người luôn
luôn bị chỉ huy bởi một mệnh lệnh
sinh học’. Xúc cảm và t́nh yêu cũng vậy,
cả hai lĩnh vực này đều do năo bộ
và con tim phụ trách chung, qua sự luân lưu của
hóa chất. Riêng kích thích tố ‘ Hormone’cũng
là một vấn đề được đem
ra bàn căi và được tạp chí US New and
World Report, dựa vào cuộc thử nghiệm chuột,
để chứng minh tác dụng hửu hiệu
của Hormone, mà khoa học gọi là ‘ Dược
Chất T́nh Yêu’, khiến chuột cái và đực
khắng khít hơn lúc b́nh thường.
V́ đây là sự phát hiện gây cấn nhất
của thập niên cuối thế kỷ XX, nên
càng ngày càng sôi nổi. Với tiến sĩ Helen
Fisher của trường đại học New
York, tác giả sách ‘Giải Phẫu T́nh Yêu’,
đă trưng ra các chất hóa học trong cơ
thể con người, có tác dụng kích thích và
gây mê nơi hai tâm hồn đang yêu thích. Đó là
các chất Adrénaline, Dopamine, Norepine, Phrine và đặc
biệt là chất Phelylethylamine, thường
được viết tắt là PEA. Riêng tiến
sĩ Marta Frid của Úc, th́ diễn tả trạng
thái hóa học của con người, bị tiếng
sét ái t́nh, sẽ có các phản ứng như hai
bàn tay bịn rịn mồ hôi, mặt mày đỏ
hồng nóng hổi, hơi thở dồn dập
đứt đoạn. Tất cả đều là
phản ứng của cơ thể, khi trung khu thần
kinh, tiết ra các chất kích thích tố tới
hệ thần kinh.
Nhưng các hóa chất PEA cũng không tồn
tại lâu dài trong cơ thể, giống như
người bệnh quen thuốc. Đó là trường
hợp của các cuộc t́nh chết yểu, khi
một trong hai kẻ yêu nhau đă lạnh nhạt
qua tác dụng của chất PEA. Ngoài ra năo bộ
thường xuyên sản xuất chất giảm
đau Endrophine, có khả năng làm phai nhạt bớt
sự nồng cháy của đam mê. Thật ra từ
năm 1906, các bác sỹ đă t́m được
hóa chất Oxytocin tạo nên sữa mẹ của
loài có vú ( người cũng như vật) và
các kích thích tố sinh dục Testosterone, Oestrogen..
Tuy nhiên cuối cùng khoa học cũng khựng
điếng, không trả lời được, v́
sao các hoá chất trên, chỉ có tác dụng gây
nên cảm xúc, yêu thương và đam mê giữa
người vói người được chọn
làm ư trung nhân hay bạn đời. Trái lại
không có tác dụng ǵ hết đối với những
người ngoại cuộc ?
Nhưng dù có tuyên bố ǵ ǵ chăng nửa,
th́ t́nh yêu vĩnh cửu vẫn là nguồn hạnh
phúc nhất trần gian, đối với con
người. Từ đó qua thời gian nhân loại
đă phát sinh ra nhiều tập tục, mang đầy
ư nghĩa của Ngày T́nh Yêu, lưu truyền cho
tới hôm nay :
**
TUYÊN BỐ KẾT HÔN :
Tục này phát xuất từ thời Hoàng
đế Charlemagne của Pháp (742-814). Lúc đó nước
Pháp thường xảy ra các cuộc hôn nhân có
tính cách loạn luân, do các người cùng huyết
thống lấy lẫn nhau, làm băng hoại xă
hội, khiến con cháu mang nhiều chứng bệnh
di truyền. Để chấn chỉnh thuần phong
mỹ tục, triều đ́nh ra lệnh tất cả
thần dân trong nước, phải ‘ Thông Báo Kết
Hôn ‘, thời hạn bảy ngày trước khi
làm lễ cưới. Mỹ tục này tới nay
vẫn được liên tục và chấp nhận.
**
NHẪN ĐÍNH HÔN :
Phát sinh từ đầu thế kỷ thứ
V sau TL, trong xă hội của các dân tộc thuộc
nhóm Anglo-Saxon. Thời đó, theo phong tục bó buộc
chú rể tương lai, phải bẻ một vật
ǵ để trao cho cô dâu một nửa và ḿnh giữ
phần c̣n lại. Năm 860 sau TL, Giáo Hoàng Nicolas
đệ I, ban lệnh xuống các tín đồ
Thiên Chúa Giáo, phải làm Nhẫn Đính Hôn bằng
vàng, để tỏ sự tín nhiệm của
chú rể tương lai, đối với nhà
gái.
Về nguồn gốc của chiếc nhẫn
cưới cũng rất phức tạp. Với
người Goths, th́ đó là biểu tượng
để cô dâu bị bắt cóc, phải ràng buộc
với người chồng. Riêng cổ Ai Cập
vào khoảng năm 1800 trước TL, th́ việc
hai bên trao đổi nhẫn cưới, để
biểu lộ sự vĩnh cửu của t́nh
yêu, v́ với họ, ṿng tṛn là h́nh ảnh bất
phân ly không bao giờ chia cắt. Tại Ấn Độ,
người ta đeo nhẫn cưới vào ngón
tay cái trái, c̣n dân Hébreux lại thích đeo ở
ngón trỏ. Tuy nhiên theo sử liệu, th́ chính người
Hy Lạp mới là tác giả của tục
đeo nhẫn cưới vào ngón áp út được
phổ biến cho tới ngày nay. Chính các bác sỹ
cũng xác nhận rằng, ngón áp út có thể gọi
là ngón tay ‘ t́nh yếu’, v́ tại đây có một
tĩnh mạch thông tới tận trái tim. Riêng
đạo Thiên Chúa th́ giải thích việc
đeo nhẫn cưới vào ngón tay áp út như
sau :’khi đeo nhẫn vào ngón tay cô dâu, đầu
tiên chú rể chạm chiếc nhẫn vào ngón tay
trỏ rồi niệm nhân danh Cha, kế tới
là ngón giữa nhân danh Con và cuối cùng đeo nhẫn
vào ngón áp út, khi niệm Thánh Thần và Amen.
**PHÙ
RỄ :
Vào thế kỷ thứ I trước TL, các
dân tộc Goths (tổ tiên người Đức ),
có tục lấy vợ cùng làng, nên đă xảy
ra nhiều trường hợp ngang trái v́ không vừa
bụng. Do trên nhiều ngươi đă phải
bắt cóc các cô gái khác làng để đem về
làm vợ. Phong tục này phải nhờ một
người bạn giúp đỡ, gọi là phù rễ.
Buổi đó, người phù rể vừa là
đại diện của đàng trai cũng
như người bảo vệ chú rể chống
lại các hành động của bên vợ. Ngày
nay, người rễ phụ có nhiệm vụ giữ
nhẫn cưới của hai họ.
**TỤC
CÔ DÂU ĐỨNG BÊN TRÁI CHÚ RỂ :
Tục này cũng phát xuất từ dân tộc
Goths. Do sự bắt cóc gái về làm vợ, nên
chú rể lúc nào cũng sợ bị trả thù.
Do đó trong ngày cưới, đă có sự sắp
xếp cô dâu đứng bên trái chàng rễ,
để anh ta dùng tay trái ôm giữ nàng, c̣n tay mặt
được tự do để ứng phó kịp
thời với bất trắc do đàn gái gây ra.
**ÁO
CƯỚI MÀU TRẮNG :Phong tục này chỉ xuất
hiện sau năm 1830. Trước kia cô dâu mặc
áo cưới màu vàng theo cổ tục của
toà thánh La Mă.
**TUẦN
TRĂNG MẬT : Phong tục này cũng phát xuất
từ người Goths. V́ hành vi bắt cóc người
đẹp về làm vợ, nên sau khi đám cưới
xong, chàng phải dát nàng đi trốn, để
tránh sự phiền phức từ bên vợ. Trong
thời gian này, cô dâu chú rể phải uống mỗi
người một cốc rượu vang làm bằng
mật ong.
**NHỮNG
CHUYỆN LẠ TRÊN THẾ GIỚI VỀ HÔN NHÂN
:
Người Nhật ngày nay tổ chức
hôn lễ theo phong tục tây phương, cô dâu mặc
áo cưới màu trắng đeo nhẫn cưới.
Song song với lễ cưới mới,
ngươi Nhật vẫn giữ phong tục tập
quán cổ truyền của tổ tiên. Đó là trong
ngày cưới, vợ chồng cùng uống chung một
ly rượu Sake. Cô dâu không mang khăn voan
nhưng lại đội một cái mũ lớn
để che cặp sừng của ḿnh. Đây cũng
là quan niệm của người Nhật, v́ chỉ
có hạng đàn bà hung dữ ghen tương hiếp
chồng, đầu mới có sừng.
Với các dân tộc Âu Mỹ, trước
một ngày tân hôn gọi là ‘ Wedding Shower ‘, cô
dâu và chú rể có quyền quậy phá, để
rồi ngày mai vĩnh viễn giă từ cuộc sống
độc thân tự do. Nhưng đề tài
để cô dâu quậy phá, cũng vẫn là chuyện
bếp núc và chuẩn bị cuộc đời làm
vợ làm mẹ. Trong dịp này, cô dâu được
cha mẹ cũng như gia đ́nh cho của hồi
môn để theo chồng.
Nhiều phong tục cổ xưa nay vẫn c̣n
thịnh hành tại Mỹ, như trong ngày cưới
cô dâu phải mang trong ḿnh bốn món đồ bắt
buộc gồm có : Món đồ cũ của gia
đ́nh ḿnh (thông thường là khăn tay của
mẹ ruột), món đồ mới của nhà chồng
(chiếc áo cưới), một món có màu xanh lơ
(sợi dây nịt) và một món mượn của
bạn (nữ trang).
Với người Đức, họ tin rằng
con số 8 là biểu tượng của sự
may mắn trong t́nh yêu, nên vào ngày 8/8/1988 thanh niên
nam nữ cả hai miền Đông và Tây Đức ,
đổ xô nhau đi làm đám cưới. Ngoài
ra người Đức đeo nhẫn cưới bên
tay phải.
Tại Áo, phong tục cô dâu khi bước vào
nhà chồng, phải liệng vào ḷ sưởi
hay bếp ḷ, một sợi tóc mai, tục này nay
vẫn c̣n tồn tại ở miền quê. Tại
Anh, khi cô dâu chú rể ra khỏi nhà thờ,
được mọi người ném gạo vào
ḿnh, mục đích chúc phúc và có con cháu đầy
nhà.
Người Trung Hoa, khi cô dâu lên xe hoa về
nhà chồng phải khóc sướt mướt.
Đây là quan niệm có từ ngàn xưa, v́ với
người Tàu, hôn nhân là cuộc phân ly tử
biệt. Người con gái khi bước lên xe
hoa về nhà chồng, coi như cũng kết thúc
cuộc sống chung với gia đ́nh ḿnh (xuất
giá ṭng phu). Theo các tài liệu cổ xưa,
người Tàu đă biết giáo dục con cái về
chuyện pḥng the rất sớm. Trong tác phẩm
‘ Bạch Hổ Thông ‘ cop ghi rằng, năm 79
sau TL, vua nhà Đông Hán đă cho triệu tập, một
cuộc họp toàn quốc, gồm các nhà học
thuật, sử gia, thầy thuốc tên tuổi,
để nghiên cứu về vấn đề giáo
dục dân chúng trong lănh vực t́nh dục. Cũng
theo tác phẩm trên cho biết, con cháu nhà quí tộc,
quan quyền từ 15-20 tuổi, phải nhập trường
để học hỏi về t́nh dục, hôn
nhân. Nói chung cha mẹ chỉ dạy dỗ con cái
qua lối ám thị, một h́nh thức nhắc
khéo mà thôi. Do đó, con gái trước khi về
nhà chồng, người mẹ lén bỏ vào rương
hồi môn của con gái, gọi là ‘Áp Rương
Đầy ‘.Thật ra đây chỉ là một pho tượng
làm bằng đất nung, tạc h́nh đôi nam nữ
trong tư thế đang giao hoan. Ngoài ra c̣n thêm một
vật khác gọi là ‘ Giá Trang Họa ‘.Đây là
một bức tranh vẽ đủ kiểu ân ái
của nam nữ. Mục đích của người
mẹ muốn truyền lại cho con gái ḿnh kinh
nghiệm, thực hành trong đêm tân hôn.
3-NHỮNG NGHỆ THUẬT
GỢI T̀NH :
HÔN
là một trong những cử chỉ để biểu
lộ sự yêu thích nồng cháy, là khúc dạo
đầu của lạc thú ái ân, là sự quyến
rũ mê ly hứa hẹn mật đường,
là nét gợi t́nh trên khuôn mặt. Bởi v́
khi yêu nhau, con người phải vận dụng
đủ năm giác quan như nh́n, sờ, nếm,
ngửi và lịm hồn.để lắng nghe sự
rung động ḥa nhịp của hai trái tim nam nữ.
Khi hôn nhau, cơ thể của hai người
đă phát tiết ra những kích thích tố gợi
t́nh như Hormone Testosterone, làm cho nước bọt
trở thành ngọt dịu, khiến cho đôi nam
nữ thêm chao đảo, như vừa hớp
xong một ly rượu mạnh. Nụ hôn đă
làm cho Thần Pan, phải đảo điên si mê
cuồng dại nữ thần Syrimt, đến
độ khi nàng biến thành khóm trúc để
lẩn trốn t́nh yêu, th́ chàng lại dùng thân
trúc để chế thành ống tiêu. Rồi
ngày ngày chàng ngây ngất, lướt môi trên
thân trúc, để tưởng tượng
như ḿnh đang hôn hít người yêu, một
đời thầm thương trộm nhớ.
Paul Bandecroux, một nhà chế tạo chất hóa
học người Pháp, vào khoảng thập niên
30 của thế kỷ XX, đă phát minh được
loại son môi Rouge Baiser. Đặc điểm của
loại son này, làm cho làn môi luôn luôn hồng thắm
với viền môi tuyệt hảo, dù chàng-nàng
có đắm đuối hôn hít loạn cuồng.
Nụ hôn theo chân con người trong mọi
sinh hoạt. Năm 1896 lần đầu tiên nhà
đạo diễn đựng cảnh hôn hít trên
màn ảnh tại Las Vegas, gây sự sửng sốt
thích thú của giới trẻ, đồng thời
cũng tạo nên làn sóng chống đối của
những nhà đạo đức thời đó.
Nhưng rồi theo thời gian, càng lúc càng có nhiều
người ưa thích hoạt cảnh trên,
đưa màn hôn hít lên ngai hoàng đế, trong
nghệ thuật thứ bảy tại Hồ Ly Vọng.
Nhưng cũng tùy theo phong tục và tập
quán của mọi miền đất trên thế
giới, nụ hôn được chấp nhận
hay bị cấm đối. Âu Châu đến nay
có nhiều vùng, hôn hít nơi công cộng bị
kết tội là công xúc tu sĩ. Đặc biệt
hầu hết gái buôn hương bán phấn,
không thích hôn khách mua hoa.Phương Đông, người
Trung Hoa cho rằng hôn hít là hành động sỗ
sàng khiếm nhă, c̣n Nhật th́ gọi đó là
thú tánh man rợ, dù họ đă chấp nhận
Âu hóa từ thế kỷ XIX.
Có điều lạ là hầu hết các
tài liệu xưa c̣n sót lại, cho thấy người
Tàu đă biết chuyện hôn hít từ năm
2000 trước TL. Nhiều tranh vẽ cảnh trai
gái hôn nhau, cũng được t́m thấy trong
các quan tài bằng đá ở Sơn Đông, Tứ
Xuyên. Bức tranh ‘ Bi Hi Đồ ;, được
xem cổ nhất của Trung Hoa, vừa được
sưu tập trong quan tài, tại Huyện Vĩnh
Kinh (Sơn Đông ).Tranh cở 7cm x 232 cm, vẽ cảnh
âu yếm của một cặp trai gái, người
đàn ông dùng tay nâng cằm của người
đàn bà và cả hai đang hôn hít đắm
đuối mê ly. Một Bi Hi Đồ khác cũng vừa
t́m thấy trong một ngôi mộ cổ thời
Đông Hán, tại Doanh Huyện (Sơn Đông), có cỡ
38cm x 88cm, vẽ cảnh một nam hai nữ
đang t́nh tự hôn hít.
Trong Hán Tự ngày nay, người Tàu dùng chữ
‘ Tiếp Vận ‘để chỉ Nụ Hôn.
Nhưng ngày xưa văn tự chưa được
phong phú, nên phải dùng thành ngữ để chỉ
hành động. Trong Tố Nữ Kinh viết từ
thời Hán, tác già dùng thành ngữ ‘ Hàn Khẩu-Đoản
Nhiệt ‘, có nghĩa là ngậm môi, nut lưỡi,
để diễn tả sự yêu đương
bằng miệng. Đến dời Nguỵ-Tấn, lại
thấy xuất hiện thêm động từ ‘
Ô-Dù ‘, trong hai tac phẩm ‘ Thế Thuyết Tân
Ngữ và Tứ Phân Luật Tạng ‘, để
chỉ nụ hôn, thay thế cac thành ngữ cũ.
Đời Đuờng, thêm nhiều từ ngữ như
‘ Lưỡng Thần Đối Khẩu, Thiệt
Nhập Kỳ Khẩu ‘, làm cho nụ hôn càng
ngày càng thêm phong phú. Qua đời Tống-Nguyên,
Phật Giáo Mật Tông của Tây Tạng, theo
gót quân Mông vào Trung Nguyên, du nhập thêm những
h́nh tượng ‘ Hoan Hí Phân ‘ miêu tả hành
động trai gái yêu đương hôn hít. Từ
đó đă mở đường cho sự phát
triển các tranh ảnh dân gian, về nụ hôn nơi
công cộng. Hiện tượng này càng ngày càng
trăm hoa đua nở, mà nổi bật nhất
là tác phẩm ‘ Kim B́nh Mai Từ Thoại ‘của
Lan Lăng Tiến tiên sinh, đă diễn tả hơn
100 kiểu hôn đầy hấp dẫn sôi động.
Song song với tác phẩm gơi t́nh này, c̣n có
nhiều Bi Hí Tự Đồ, đời Minh với
24 trang khắc bản đính kèm trongsách ‘Hoa
Doanh Cẩu Trận ‘, diễn tả cảnh nam nữ
khảo thân, đang ngồi trong bồn tắm hôn
hít. Nhiều danh từ mới xuất hiện
trong Hán Tự, chỉ nụ hôn như ‘ Thâm Chủng,
Tế Chủng, Tố Liễu Cá Lữ Tự ..
’ ’
Tóm lại Nụ Hôn là một nghệ thuật
yêu đương độc đáo của con người,
tạo được một khaói cảm nồng
cháy, khi môi chạm môi, mặt đối mặt,
làm tăng thêm hương vị ngọt ngào quyến
rủ, như người xưa đă viết :
‘ chàng đuổi thiếp về
thiếp hướng về chàng
tṛ chuyện thỏa thê
c̣n sung sướng hơn cả động
pḥng
chàng p6m thiếp
thiếp ôm chàng
gót sen nhón lên
môi chạm môi ngọt hơn đường..
’ ’
Trong khi đó người Y lại tự nhận
ḿnh là dân tộc đầu tiên, đă phát minh
ra nụ hôn, v́ thời thượng cổ, chỉ
có đàn ông Ư mới được quyền uống
rượu. Do trên mỗi khi vắng nhà, khi trở
về, việc đầu tiên là chồng phải
ngửi môi vợ, xem nàng thừa lúc chàng đi vắng,
có uống rượu trộm không / Đó là nguyên
nhân phát sinh ra nụ hôn. Từ đó mọi người
bắt chước hôn hít, sử viết vua Louis
III của Pháp , đă ban tặng nhiều châu ngọc,
vàng bạc, kim cương cho phi tần khi họ
đến hôn ông ta. Thế kỷ XIV-XV, tại
Âu Châu có nạn dịch truyền nhiễm qua
đường miệng, nên thời gian đó nụ
hôn bị gián đoạn và cấm chỉ. Nhưng
sau đó khi bệnh dịch đả dứt, nụ
hôn lại được thịnh hành và này nay,
hôn được coi như một nghi thức xă
giao tự nhiên của con người, nhất là
tại các nước Âu-Mỹ. Tóm lại ngày
nay có hằng kiểu hôn nhưng chung qui vẫn gồm
ba loại : Hôn để xă giao, Hôn để biểu
lộ t́nh cảm và Hôn lứa đội. Theo tổng
kết của tờ Madame Figaro Magazine, th́ các nước
Anh, Mỹ, Tàu, Pháp, Ư, Ấn Độ.. rất
thích hôn môi, để biểu lộ t́nh yêu.
Đúng như sự nhận xét của các văn nhân
nghệ sỹ : ‘ Nụ hôn là mùa xuân đẹp
nhất của t́nh yêu, là tinh hoa của trời
đất vũ trụ .. ’ ’
Ngoài nụ hôn, để giữ hạnh phúc
t́nh yêu, con người c̣n phải biết TRÁNG DƯƠNG
BỔ THẬN để thắp sáng ngọn lửa
t́nh. Đây là phong cách của các đấng mày
râu nhằm bảo đảm t́nh yêu vĩnh cửu.
Ngày nay có nhiều liệu pháp trị liệu như
Testosterone, DHEA, Hormone.. chỉ là sự nối tiếp
theo bước chân của tổ tiên thời xưa,
trên đường đi t́m dược thảo,
dược liệu để mong trường sinh
bất lảo, bồi bổ sinh lực, duy tŕ tuổi
thanh xuân.
Con người không ai không ham muốn, ngoại
trừ các bậc thánh nhân đă đạt tới
tŕnh độ thiền tâm thiện ư thượng
thừa. Do đó từ các nguồn sử liệu
c̣n sót lâi, ta biết Hoàng đế cổ Ai Cập
là Tutankhamun ăn rể cam thảo mỗi khi gần
Hoàng hậu. Với các Hoàng đế Gincomo,
Catanova th́ cho rằng ṣ và kẹo cho chocolat làm tăng
cường khả năng t́nh dục. Ngay cả
Shakespeare viết trong tác phẩm ‘ Lái Buôn Thành
Vienne ‘ cũng ca tụng cac loại dược thảo
thần diệu, thắp sáng được ngọn
lửa t́nh nơi những kẻ cao niên, cải
lăo hoàn đồng.
Tại Ấn Độ có bộ kinh Kama Sutra viết
về chuyện pḥng the với nhiều chi tiết
thật mới mẽ, nếu so với ngày nay.
NƯỚC HOA hay hương thơm của t́nh
yêu, cũng là một sự quyến rũ kỳ
diệu. Thật vậy, chỉ cần có một
vài giọt nhỏ nước hoa trên cổ, trên
da của một người đàn bà, cũng
đủ làm khựng điếng các đấng
nam nhi, gọi mời cả hai bước vào con
đường thênh thang của t́nh ái, sau đó
chuyện ǵ sẽ xảy ra, nào ai biết
được. Đây cũng là chuyện củ
rích, v́ ngay từ năm 4600 trước TL, phụ
nữ cổ Ai Cập đă biết dùng nước
hoa, để làm lợi khí trong t́nh yêu.Trong lúc gần
như nhân loại trên trái đất c̣n ăn lông
ở lỗ, th́ tại xứ Kim Tự Tháp, th́
người Ai Cập đă đắm ch́m trong lạc
thú ăn chơi xa hoa trụy lạc. Nhiều bằng
chứng thời đó, được các nhà khảo
cổ t́m thấy trong các ngôi mộ, điển
h́nh là các bó hoa khô (Pulicaria ố Inducata),
được dùng để phũ trên quan tài
đá ở Héluoan ( Le Caire). Tại mộ vua Toutan
Khamon, có nhiều hoa và những lọ nhỏ
đựng một loại rễ cây, có tác dụng
xông mùi hương. Nhiều bức họa tường
vẽ cảnh các phụ nữ đang dự tiệc
, người nào cũng trang điểm bằng
hoa sen và đội ṿng hoa trên đầu. Nhiều
bức họa c̣n hướng dẫn cách nấu
dầu thơm. Tại thành phố sa mạc
Héliopolis, người ta đốt nhựa
hương buổi sáng, nhựa thông buổi trưa
và hương liệu hỗn hợp Kumphi vào ban
đêm, để không khí luôn luôn thơm tho thanh
thoắt. Nói chung, hầu như các thành phố của
cổ Ai Cập, nhà nào cũng có vườn hoa.
Ngoài phố, dọc theo đường có các trụ
đèn thiết kế h́nh cánh tay, cầm một
cốc nhỏ đựng các hương liệu,
dùng để đốt ban đêm. Theo sử liệu,
th́ dân tộc Ai Cập đă phát minh đầu
tiên các loại dâu thơm, để chà xát cơ
thể khi tắm gội. Phương thức này,
về sau được hai đế quốc Hy Lạp-La
Mă bắt chước, khi họ chiếm Ai Cập.
Những loại thuốc bôi da, giữ ǵn nhan sắc
cho người phụ nữ, cũng đước
chế tạo sớm nhất ở Ai cập và vẫn
được lưu trữ trưng bày tại
các viện bảo tàng Ba Lê, Luân Đôn.. Đây là các
sản phẩm có từ 4000 trước TL, gồm
dầu thơm, thuốc bôi da làm bằng hợp
chất cây Kinh Giới Ô (Origan), quả hạnh,
nhựa trầm hương, nhựa Ả Rập..
Sử dụng hương liệu để
chế biến dầu thơm cũng như dùng
hoa lá làm vật trang điểm, là ước lệ
muôn đời của phụ nữ Châu Phi. Tại
Turisia, người đàn bà dùng bột cây Dier
để chế một loại thuốc bôi da,
có mùi thơm chất ngất gợi dục. Phụ
nữ Ai Cập thích tô mặt bằng phấn trắng-đỏ,
trộn chung với bột vàng mua tại cac tiệm
kim hoàn. Ngoài ra cây lá móng tay cũng là dược
liệu quan trọng, để chế tạo các
hương liệu t́nh yêu, v́ hoa của nó có
mùi hương rất nồng nàn, được
người La Mă dùng chế tạo thuốc nhuộm
tóc. Nhưng phụ nữ Ai Cập th́ lại
dùng nó để bôi vào gan bàn tay hay sơn móng
tay chân và bôi trên tóc trong các bửa tiệc,
để tạo thêm sự quyến rũ đối
với nam giới.
Ngày nay nuớc hoa được sản xuất
khắp thế giới. Tuy nhiên Ai Cập cũng vẫn
là nước được ưa chuộng trong
ngành chế tạo các hương liệu cổ
truyền. Các sản phẩm này lúc nào cũng
được trưng bày tại các Hội chợ
quốc tế Kham Khalil và bán với giá thật cắt
cổ v́ phương thức cất nước
hoa của người Ai Cập bí truyền.
Sáu mươi năm về trước,
Grasse là kinh đô nước hoa của Pháp và cả
thế giới. Nhưng nay thời đă biến
đổi, địa điểm trên đă bị
đô thị hóa, ảnh hưởng đến các
cánh đồng hoa. T́nh trạng trên cũng đă
xảy ra tại Ai Cập là cái nôi sản xuất
hương liệu. Do trên các nhà sản xuát nước
hoa ngày nay, đă phải lặn lội đi t́m
nguyên liệu mới. Đó là cánh đồng Hoa
Chanh trên đảo Sicile ở Ư, rừng Hoa Nhài
trên khắp các cánh đồng hoa Ấn Độ,
Hoa Hồng tại Đông Phi.. tất cả đều
được chọn giống chính từ các
cánh đồng hoa ở Grasse. Tuy nhiên phương
pháp chế tạo nước hoa ngày nay đă
được kỹ thuật hóa, làm tăng thêm
sự quyến rũ kỳ diệu của nước
hoa, giúp cho con người gợi lại bao kỷ
niệm hương xa.
Trong lúc các người đẹp khắp hoàn
cầu, tận dụng mùi hương để tạo
thêm sự quyến rũ của phụ nữ, th́
cũng lá lúc có không biết bao nhiêu phải
đổ mồ hôi vất vả, để
chăm sóc, vun xới các cánh đồng hoa cho chúng
luôn luôn nở rộ. Họ làm việc thật
là khổ nhọc từ Midi của Pháp, qua tới
Ispainta (Thổ Nhĩ Kỳ). Từ Cap Bon (Tunisia),
Madagascar cho tới Tamil Nadu và Karuataka (Ấn Độ).
Tất cả các cánh đồng hoa trăm
hương ngàn tía, thi nhau khoe sắc nơn nường,
với đủ các loại Hoa Hồng Damascena,
Hoa Công Chúa Ylang-Ylang, Hoa Chanh, Hoa Quít, Hoa Nhài..
Riêng công ty nước hoa lừng danh nhất thế
giới hiện nay là CHANNEL vẫn giữ đúng
truyền thống của nữ chủ nhân sáng lập
Coco Channel, cũng là nữ điệp viên ngoại
hạng của Pháp, chuyên dùng loại HOA LÀI,
để chế tạo loại nước hoa số
5. Công ty này hiện có rất nhiều cánh đồng
hoa lài, trên rặng núi Alpes và Ấn Độ.
Nhưng không phải hoa nào cũng đều
có mùi hương giống nhau, dù là đồng
loại. Tất cả đều phải lệ
thuộc vào giống chính, đất đai, khí hậu..
cho nên chỉ có các chuyên viên mới có đủ
tư cách phân loại hoa, giống.khi quyết
định chế tạo nước hoa. Ngày nay
các công ty đă chế tạo được máy
Đo Mùi Vị (Olifactomètre), để phân biệt
các lọai hoa nhưng tựu trung cũng không làm
sao sánh nối với cái mũi kỳ diệu của
các chuyên viên, trong đó nhiều người
đă phân biệt được tới 200 loại
mùi hoa. Nhờ vậy các bà các cô mới có đủ
các loại nước hoa như Antaeus, Coco Channel,
Égoiste, Jacghes.. để cho t́nh yêu chấp cánh.
Tóm lại tan vở và hạnh phúc đều
là khía cạnh tâm lư thường trực của
con người. Bởi vậy đă có nhiều cặp
vợ chồng sống chung nhau tới trọn
đời, trái lại cũng không ít đôi uyên
ương phải ngậm ngùi chia ly ngăn cách
v́ bao nhiêu ngang trái trùng hằng. Cho nên muôn đời
T́nh Yêu vẫn là sự bí mật vĩnh cửu,
v́ vậy không trách Xuân Diệu đă viết :
‘ Yêu là chết trong ḷng một ít,
V́ mấy ai yêu mà chắc được yêu
Cho rất nhiều nhưng nhận chẳng
bao nhiêu
Người ta phụ hay thờ ơ chẳng
biết.. ’ ’
Bởi thế làm sao định nghĩa nổi
t́nh yêu ?