SAU
BA MƯƠI NĂM QUỐC HẬN,
T̀M HIỂU SỰ THẬT VỀ ĐƯỜNG
M̉N HỒ CHÍ MINH
TRONG CUỘC CHIẾN ĐÔNG DƯƠNG II (1955-1975)
Một năm sau ngày miền Nam bị cưởng
chiếm, phái đoàn Bắc Việt do Trường
Chinh đại diện và Đảng Bộ Việt Cộng
miền nam tức Mặt Trận Giải Phóng MN, dưới
quyền Phạm Hùng, đă chính thức họp tại
Sài G̣n, để khai tử cái Mặt Trận “
MA “, được Hà Nội dàn dựng và khai
sinh từ ngày 20-12-1960, nhằm lường gạt
dư luận thế giới và dân chúng trong nước,
qua âm mưu thôn tính VNCH. Cũng
từ đó (1976), cái gọi là con đường
huyền thoại Hồ Chí Minh, tức đường
ṃn Trường Sơn với bí danh 559A, hành lang
để Hà Nội chuyển tiếp liệu, quân
dụng và người vào Nam, từ năm 1959 tới
ngày 30-4-1975, cũng bị đảng nhận ch́m
trong quên lăng.
Bắt
đầu từ năm 1989 tới 1991, đă có nhiều
biến cố chính trị quan trọng xảy ra tại
Đông Âu. Đó là việc các nước chư hầu,
lần lượt từ bỏ xă hội chủ
nghĩa, kéo theo sự sụp đổ và tan ră của
Liên Bang Sô Viết. Để cứu đảng khi
đă mất cái dù che của Nga, Việt Cộng lại
ngả về Tàu, đồng thời mở khẩu
đổi mới, trải thảm đỏ, mời
Hoa Kỳ, Nhật và Tây Phương vào làm ăn
buôn bán. Nhờ vậy lớp son phấn che kín bản
mặt thật của đảng, dần hồi bị
xói ṃn, bởi các tệ trạng tham nhũng,
cướp bóc nơi cửa quyền và nhất là
sự kiện đảng công khai bán nước
cho ngoại bang, hèn nhục để cho dân ḿnh bị
Tàu Cộng bắn giết trên biển mới xảy
ra vào tháng 1-2005, đă làm cho cả nước không
c̣n hăi sợ và tin Việt Cộng, kể cả một
số không ít trí thức khoa bảng NamVN trước
đây, từng tin đảng là chính nghĩa, làm
cách mạng chỉ để giải phóng đất
nước bị Mỹ-Ngụy kềm kẹp bóc
lột.
Để
bảo vệ đảng cũng như quyền lợi
của chóp bu đang hồi tiến nhanh tiến mạnh,
Hà Nội lai lùi một bước, quay về với
chiến lược cũ rích năm nào. Đó là
dùng lịch sử để lường gạt
đồng bào và việt kiều thêm lần nửa.
Đảng đem những huyền thoại trên trời
dưới biển năm nao, ra hâm nóng lại tinh
thần yêu nước là “ yêu nước xă hội
chủ nghĩa “của cán bộ đảng viên,
đang bị phân hoá lung lay niềm tin tới tận
gốc, v́ dành ăn, tranh quyền và ganh tị lẫn
nhau bởi “ trâu cột ghét trâu ăn “.Ngoài ra,
đảng cho trùng tu lại các di tích chiến
tranh, như Địa đạo Vĩnh Mốc
(Vĩnh Linh-Quảng Trị), Củ Chi (Hậu
Nghĩa), cũng như tái tạo lại con
đường ṃn Hồ Chí Minh. Công tác trên vừa
có tính cách xoa dịu tự ái của những
đảng vỉên bộ đội già bị vắt
chanh bỏ vơ, sau khi tàn chinh chiến. Đồng thời
lần nữa lừa bịp cũng như móc túi bọn
du khách ngoại quốc, trong đó có không ít Việt
Kiều trí thức Miền Nam ngày xưa trốn quân
dịch, nên có bao giờ biết cũng như nếm
được mùi chiến tranh bom đạn, và
đám da trắng giàu có đa sự. Bọn này rất
muốn biết và nh́n tận mắt con đường
mà Hoa Kỳ, nói là đă oanh tạc một số
bom đạn, nhiều hơn số lượng
đả sử dụng trong thời đệ nhi
thế chiến nhưng vẫn không ngăn nổi
người và quân dụng Bắc Việt vào Nam.
Việc
đẻ ra kế hoạch “ mười năm du
lịch “ 1995-2005 “ của Vơ văn Kiệt tại
nghị định số 307 ngày 24-5-1995, cũng là
một trong những sự sao y bản chánh của
Trung Cộng, v́ thấy Đặng tiểu B́nh đă
thành công, khi xây dựng các khu du lịch và công
nghiệp tại Thẩm Quyến, Hải Nam, Thượng
Hải.. Từ đó Hà Nội đă bất chấp
thực tế, vẫn hồng hơn chuyên, bỏ hằng
tỷ bạc ngân sách quốc gia, để xây dựng
nhà máy lọc dầu Dung Quất và thành phố Vạn
Tưởng, tại Quảng Tín-Quảng Ngăi, trước
sự mai mỉa cười chê của thế giới.
Khắp nước nơi nào cũng tổ chức
các tour du lịch, để hốt bạc và tuyên
truyền bộ mặt son phấn mới của VN
xă nghĩa. Ngay chốn khỉ ho c̣ gáy như miền
giới tuyến năm nào trong tỉnh Quảng Trị,
cũng có một tour du lịch, từ Cửa Việt
lên tới Khe Sanh, Tà Cơn, Cầu Treo DakRong, ngă ba
QL9 và đường ṃn HCM, gọi là The
Demilitarized zone tour, thường viết tắt là
D.M.Z. Mục đích để đảng quảng
cáo các chiến lợi phẩm thời chiến
tranh và cái gọi là nghĩa trang liệt sĩ
Trường Sơn, mà theo thân nhân của người
quá cố, trong ḥm chỉ có cát-đất mà thôi.
Có
đọc trường thiên kư sự “ Đường
đi không tới “ của nhà văn VC hồi chánh
là Xuân Vũ, hay đă làm lính VNCH, mới cảm
nhận được cái ư vị khổ nhục
cùng tận của cuộc chiến Đông Dương
lần 2 (1955-1975), do Đệ tam quốc tế cọng
sản chủ xướng, qua vai tṛ tên lính tiền
phương đánh mướn là Việt Cộng.
Trong cuộc chiến vô nghĩa phi lư này, mặt trận
tại Trường Sơn, đă là mồ chôn hằng
vạn tử sĩ của cả hai phía. Những
địa danh như Dốc pháo cụt, Đồi
không tên, Sông A-Vương, Lũng Giằng, Khe Sanh,
Dakto, A-Shau, Ia-Drang, Pleime, Đức Cơ.. ra tận miền
Bắc, càng lúc càng trở nên khốc liệt, khi
nó chính thức trở thành con đường chiến
lược để Bắc Việt xâm lăng
VNCH. Suốt thời gian chiến tranh, Vơ Nguyên Giáp
qua tư cách Đại Tướng tổng tư lệnh
quân đội VC, đă từng tuyên bố với
báo chí quốc tế, là hắn sẽ đốt rụi
Trường Sơn, dù phải đem giết hết
thanh niên nam nữ miền bắc. Cho nên không lạ
khi thấy Xuân Vũ nói “ mạng người lá
rụng “, để viết về thảm kịch
Đường Đi Không Tới, của một số
cán binh bộ đội hồi kết năm nào.
Tháng
11-1997, Vơ nguyên Giáp khoe thành tích Bát Quái Đồ, tức
là đường Trường Sơn 559, do Đinh Đức
Thiện và Đồng Sĩ Nguyên lần lượt
chỉ huy suốt cuộc chiến từ 1960-1975. Ngày
xưa thế giới đui mù v́ bị bọn trí
thức khoa bảng, cha-sư, miền nam tuyên truyền
lật lọng, nên chẳng bao giờ thấy
được h́nh ảnh bộ đội cọng
sản “ sinh bắc tử nam “, khi ồ ạt
vượt vĩ tuyến 17, vào đường ṃn
HCM, để tấn công cưỡng chiếm Miền
Nam thanh b́nh no ấm, như họ đă thấy tại
bán đảo Triều Tiên, vào tháng 6-1950, qua cuộc
chiến Cao Ly. Nhưng biết sớm hay muộn
cũng giống nhau, v́ ngày nay trên khắp nẻo
đường Trường Sơn năm củ, từ
Bắc Việt vào tới Phước-B́nh Long, hằng
ngày đă có hằng vạn nguời Việt ,
đói rách bị chĩa súng có gắn mă tấu
sau lưng, để bắt họ làm nghĩa vụ
lao động. Cũng qua cái h́nh ảnh đau
thương này, đă làm cho mọi người
trong cuộc của cả hai phía, chợt nhớ tới
những cô gái Trường Sơn năm nào, luôn mỏi
ngóng các chàng lính trận có lần đă đi vào
con tim của họ. Để rồi từ đó tới
nay, tuổi xuân tháp cánh lưng trời, mà bóng ai vẫn
biền biệt, như cái huyền thoại Trường
Sơn, thật sự đă chết trong tâm tư
đồng bào sơn cước, khi họ bị
VC cướp đất, lừa bịp.. sau khi
đất nước đă có ḥa b́nh.
“ mai về quê mẹ,
lên biên giới
thăm lại Trường
Sơn thuở kiếm cung
rừng núi vẫn xanh
màu khát vọng
chỉ ta hờn tủi,
kiếp tha hương ..”
1-
Bối cảnh lịch sử có liên quan tới chiến
cuộc Đông Dương lần thứ 2 (1955-1975) :
Ngày 7-5-1954 Điện Biên Phủ thất thủ,
nước VN tạm thời bị chia cắt thành
2 miền riêng biệt, với 2 thể chê khác nhau,
do cái gọi là tứ cường Liên Xô, Anh, Pháp
và Trung Cộng tự ư quyết định số
phận của đất nước và dân tộc
VN, tại bàn hội nghị Genève ( Thụy Sĩ
). Hoa Kỳ lúc
đó là đồng chủ tịch nhưng v́ một
lư do ǵ đó, nên không kư vào biên bản. Từ
đó, Bắc Việt do Hồ Chí Minh lănh đạo,
công khai theo chế độ cọng sản và là
chư hầu của Nga-Tàu. Miền Nam chọn
chính thể Cọng Ḥa. Hai miền VN lấy vĩ
tuyến 17, cũng là con sông Bến Hải, tỉnh
Quảng Trị, làm ranh giới tạm chia. Theo tinh
thần hiệp ước đ́nh chiến, quân viễn
chinh Pháp phải rút hết về nước, c̣n
VC trong mặt trận Việt Minh tại miền
Nam, cũng phải tập kết ra bắc.
Từ
khi chính thức làm trùm nửa nước, Hồ
Chí Minh và đảng VC, theo chân Mao Trạch Đông,
phóng tay phát động phong trào cải cách ruộng
đất năm 1956, làm cho hằng vạn người
dân vô tội tại miền bắc, bị đấu
tố chết thảm thương, trong số này hầu
hết đều có công với nước hay với
đảng trong chín năm kháng chiến chống
Pháp. Nội vụ được giấu kín hay
được bọn trí thức khoa bảng da trắng
thân cộng như G.Kolko, tác giả quyển “ VN
Anatomy of wars 1940-1975 “ tuyên truyền hoàn toàn trái ngược
với sự thật. Trong khi đó, t́nh h́nh chính
trị của miền Nam từ A ố Z, bị bọn
trí thức thân cộng trong và ngoài nước, moi
móc, bịa đặt đủ điều vơí
mục đích làm mất chính nghĩ quốc gia của
người miền Nam, trong lúc đang chiến
đấu chống lại sự xâm lăng của
đệ tam quốc tế .
Tại
VNCH, những năm đầu tiên, TT Ngô Đ́nh Diệm
đă gặp rất nhiều khó khăn , trong việc
đương đầu với với các Giáo
phái và lực lượng B́nh Xuyên. Lợi dụng
giậu đổ b́m leo, VC nằm vùng tại miền
Nam đă phát động các cuộc nổi loạn
vơ trang, gọi là đồng khởi tại Trà Bồng
(Quảng Ngăi), Bắc Ruộng (B́nh Thuận) và Mơ
Cầy (Bến Tre), song song với các vụ khủng
bố, ám sát đồng bào và viên chức xă
ấp khắp nơi nhưng cuối cùng mọi
hành động phá rối của VC đều thất
bại. Theo hầu hết các nguồn sử liệu
c̣n lưu trữ, cho biết t́nh h́nh chính trị tại
VNCH, vào những năm 1956,1957, 1958 rất khả
quan từ Sài G̣n cũng như các tỉnh, nơi
thị tứ cho tới chốn quê làng, đâu cũng
vui sống cảnh thanh b́nh no cơm áo ấm. Nhờ
vậy TT Ngô Đ́nh Diệm cũng như Chính Phủ
Miền Nam, lúc đó đă gây được uy tín
rất lớn trên thế giới.
Trước
t́nh h́nh nguy ngập đó, Hồ Chí Minh đă phải
gọi Lê Duẩn, lúc đó đang làm xứ bộ
trưởng, chỉ huy cán bộ nằm vùng tại
miền Nam, trở ra Bắc, để duyệt xét
lại kế hoạch cưỡng chiếm VNCH bằng
vũ lực, thay v́ kỳ vọng vào cuộc tổng
tuyển cử thống nhất đất nước
như Hiệp định Geneve 1954 đă qui định,
mà VNCH không chịu thi hành, v́ không hề kư vào
biên bản hiệp ước trên. Trong phiên họp
lần thứ 15 của Bộ Chính Trị Trung
Ương Đảng, khai diễn ở Hà Nội vào
tháng 1-1959, quyết định thành lập Lực
Lượng Vũ Trang tại Miền Nam. Kế tiếp
ngày 5-10-1960, đảng lại họp Đại Hội
3 cũng tại Hà Nội, để thành lập Đảng
Bộ cọng sản Miền Nam, qua danh xưng “ Mặt
Trận Giải Phóng Miền Nam “,làm cánh tay nối
dài, vừa là b́nh phong, vừa tạo công cụ
xâm lăng cho Bắc Việt. Đúng như Lê Duẩn
đă tuyên bố “ Đó là chiến lược bảo
đảm thắng lợi hoàn toàn cho cuộc cưỡng
chiếm miền Nam, dưới sự lănh đạo
của đảng Mác-Lê và giai cấp công nông “.Tóm
lại theo chủ trương của Hà Nội, Đảng
Bộ CS miền Nam, tức MTGPMN , phải hành động
theo ba mục tiêu chiến lược : 1- Ly gián
đồng bào và chính quyền VNCH 2- Đánh lừa dư
luận thế giới về cuộc xâm lăng của
miền Bắc, trở thành cuộc nội chiến
tại miền Nam . 3- Tuyệt đối phải tuân
theo các chỉ thị của đảng, do miền
Bắc lănh đạo, Mặt trận miền Nam chỉ
thừa hành, theo đúng chính sách đề
cương trong khối xă hội chủ nghĩa quốc
tế.
Nên
tới nay, dù được gọi bằng danh từ
ǵ chăng nửa như Cục R, Đảng bộ CS
Miền Nam, Mặt Trận GPMN.. th́ cũng chỉ là
“ Mặt trận mốc x́, đảng ta đó
“ qua lời tuyên bố trơ trẽn của Lê Đức
Thọ tại Ba Lê, sau khi vừa kư xong với
Kissinger trên tờ hiệp định ngưng bắn
năm 1973. MTGPMN được hợp thức hóa
vào cuối tháng 12-1960 tại một căn cứ của
VC, nằm cách biên giới Việt-Miên chừng 7km.
Đây là khu rừng già nằm kế cầu Cần
Đăng, trên con đường đá đỏ Trà
Băng, Trại Bí, Xóm Mới, Sóc Ông Trang.. thuộc
tỉnh Tây Ninh. Buổi lễ được đặt
dưới quyền chủ tọa của Sáu Vi,bí
danh của đại tướng Nguyễn Chí
Thanh, ủy viên bộ chính trị, bí thư trung
ương đảng, nguyên phụ trách vấn
đề nông dân và thanh niên miền bắc. Mặt
trận có mười nhân vật khoa bảng miền
Nam, đang đối lập chính trị với
VNCH, gồm Nguyễn Hữu Thọ (đang bị
giam tại Cũng Sơn-Phú Yên, v́ tội hiếp
dâm, dược VC giải thoát ), Trương
Như Tảng, Dương Quỳnh Hoa, Phùng văn
Cung, Ưng văn Kỳ.. Bọn này hầu hết
thuộc thành phần địa chủ, phú gia thời
Pháp thuộc, được VC nằm vùng là Huỳnh
tấn Phát móc nối dụ dỗ. Tất cả
được Hà Nội đem ra làm bung xung che mắt
thiên hạ nhưng đầu năo lănh đạo, vẫn
do Lê Duẫn, Lê Đức Thọ, Phạm Hùng, Trần
văn Trà, Nguyễn Chí Thanh.. quyết định
theo đúng chính sách của Hà Nội đă nghị
quyết. Cũng từ đó, Nguyễn Hữu Thọ
được phong hàm chủ tịch Mặt Trận,
mở đầu cuộc chiến xâm lăng Miền
Nam bằng vũ lực. Tại Miền bắc, Hồ
Chí Minh ban lệnh hồi kết, hàng chục ngàn
cán binh bộ đội trở về Nam, để
thành lập “ Quân Giải Phóng “ do Trần Văn
Trà làm tư lệnh. Một số lớn Hoa kiều
sống tại Hải Ninh, Hải Pḥng, Hà Nội,
Thanh Hóa.. cũng được vào Nam, cùng một
số Hoa Kiều thân cộng, đang do Tư Méo, tức
Trương Gia Triều, bí danh Trần Bạch Đằng
chỉ huy, để trà trộn, tuyên truyền gây
rối trong cộng đồng người Hoa miền
Nam. Đồng thời con đường ṃn giao liên
cũ, từ miền bắc vào Liên Khu 5, do đại
tá Nguyễn Thông, bí danh của trung tá Nhật
Ishitako, mở năm 1947, cũng được
đảng giao cho Hai xe ngựa tức đại tá
Vơ Bẳm, nối lại, để trùng tu vào năm
1959. Đây là con đường chiến lược
Liên Việt, tức là đường ṃn Trường
Sơn hay Hồ Chí Minh, mang bí danh 559A. Sau khi Pha.m văn
Đồng nhân danh thủ tướng nước
VNDCCH, theo chỉ thị của đảng và chủ
tịch Hồ Chí Minh, kư xác nhận quần đảo
Hoàng Sa-Trường Sa thuộc Trung Cộng vào năm
1958, th́ Hà Nội được Tàu Cộng, giúp
phương tiện mở thêm một đường
dây trên biển Đông với bí danh 559B hay 759, chuyển
quân dụng và bộ đội từ bắc vào
nam bằng đường thủy. Theo Đồng văn
Cống, từng phụ trách đường dây
559B từ 1959-1968, th́ việc tổ chức hai con
đường bí mật trên, chỉ có Hồ Chí
Minh, Phạm văn Đồng, Lê Duẩn, Phạm
Hùng, Lê Đức Thọ, Vơ Nguyên Giáp, Văn Tiến
Dũng và Trần văn Trà, biết mà thôi. C̣n những
người khác chỉ thừa hành theo lệnh, kể
cả Nguyễn Chí Thanh, Trần Độ, Trường
Chinh..
2-
Đường Ṃn Hồ Chí Minh :
Sự thật, những chuyện đă xảy
ra hằng ngày , trên đường ṃn HCM, tức
là hành lang xâm nhập người và quân dụng,
từ Bắc vào Nam của cong sản Hà Nội,
đối với Hoa Kỳ và VNCH, không phải là
huyền thoại hay bí mật ghê gớm, v́ những
ǵ xảy ra ở đó, qua phi cơ thám thính và
các toán Biệt Kích hoạt động, họ gần
như biết đủ. Có
chăng là sự lạ lùng, v́ ai cũng biết VC
là kẻ chủ mưu gây nên cuộc chiến
Đông Dương lần thứ 2, chứ không phải
là nội chiến. Ngoài ra cuộc xâm lược
qui mô đều phát xuất từ đường
ṃn Trường Sơn, tiếp diễn liên tục
đêm ngày không bao giờ gián đọan. Thế
nhưng quân lực Hoa Kỳ, Đồng Minh và ngay cả
VNCH, cũng bị chính phủ Mỹ tại Hoa Thịnh
Đốn, ra lệnh giới hạn trong lúc chiến
đấu với VC, theo qui định tại nhiều
điểm, được gọi là “ Luật Chiến
Đấu ố Rules of Engagement “.Ngoài ra cũng không
được tấn cộng hậu phương
miền bắc, để tránh sự đụng
độ quân sự với Trung Cộng, như
đă xảy ra năm 1950, tại chiến cuộc
Cao Ly.
Năm
1985, sau mười năm chấm dứt cuộc chiến
Đông Dương lần thứ 2, Bộ Quốc Pḥng
Mỹ mới cho phép giảm độ mật, khi
cho Congressssional Record phổ biến hạn chế, cái
gọi là “ Luật Chiến Đấu tại VN “
qua 26 trang tóm tắt, trong đó có liên quan tới
đường ṃn Hồ Chí Minh. Cũng nhờ vậy,
ta mới biết được nhiều điều
thật vô lư, chỉ có siêu cường Mỹ mới
có. Chẳng hạn nhu trong luật chiến đấu,
có điều 3 cấm không quân Mỹ giội bom
các quân xa VC, nếu chúng ở cách đường
ṃn HCM 200m. Điều này giúp cho quân xa Bắc Việt
an toàn khi chúng lái xe trên đường ṃn Trường
Sơn, lúc nghe máy bay Mỹ oanh tạc, chỉ cần
lái x e ra khỏi vị trí 200m, là hết chuyện.
C̣n điều 6 th́ cấm quân Mỹ truy kích VC, nếu
chúng rút qua biên giời Lào hay Kampuchia. Biếy vậy,
nên hầu hết các căn cứ của Bắc Việt,
kể cả cục R đều đươc lập
sát hay bên kia biên giới, nên rất an toàn. Do trên
các cuộc hành quân vượt biên mang tên Toàn Thắng,
vào năm 1970 tại Miên hay hành quân Lam Sơn 719
ở Hạ Lào, vào thời TT Nixon, đă bị
đảng Dân Chủ Mỹ thân cộng, căn cứ
vào luật chiến đấu, la ó phản đối
dữ dội. Cuối cùng tại Quốc Hội, cũng
cái đám nghị sĩ-dân biểu đảng Dân
Chủ Hoa Kỳ, ra luật cấm quân lực Hoa Kỳ
hành quân vượt biên khỏi Nam VN. Những bí mật
nhỏ nhoi trên, chỉ là một trong muôn ngàn
điều bật mí sau này, cũng là lư do, khiến
cho Mỹ cũng như VNCH, dù đă nỗ lực
và hao tốn không biết bao nhiêu tiền bạc, xương
máu nhưng cuối cùng vẫn không ngăn nổi
cuộc tiến quân của Bắc Việt, trên
đường ṃn HCM. Theo Đồng Sĩ Nguyên, phụ
trách Binh Đoàn 559A từ tháng 12/1966 tới tháng
4/1975, th́ đơn vị này có gần 2000 xe vận
tải và 4 binh trạm, với nhiệm vụ tải
người và quân dụng từ miền Bắc
vào Nam. Quân số của Binh đoàn 559A trên 120.000
người, gồm 10.000 thanh niên xung phong, 1 sư
đoàn cao xạ pḥng không của Bộ TTM/VC tăng
phái và tám sư đoàn vận tải, chiến
đấu trực thuộc. Sau ngày kư hiệp định
ngưng bắn 1973, cọng sản Bắc Việt băi
bỏ giai đoạn gùi thồ đường
đất và binh trạm, mà công khai chuyển quân
từ bắc vào nam, mỗi lần cả sư
đoàn tới binh đoàn, kể cả tăng-pháo,
trước sự bất lực của VNCH khi Hoa Kỳ
đă phủi tay về nước. Do trên cuộc
hành tŕnh chỉ mất 12 ngày, thay v́ 4 tháng như
trước, nên VC lúc nào cũng đủ quân số
và quân dụng, v́ có cả một núi người
sẵn sàng “ sinh bắc tử nam “, cũng
như các nước xă hội an hem, nhất là
Trung Cộng, hết ḷng chi viện. Trong lúc đó,
VNCH chiến đấu với cả khối cọng
sản đệ tam quốc tế trong cô
đơn nơi chiến trường, đă vậy
c̣n bị bọn cốt người mà óc khỉ tại
hậu phương, công khai đâm hùa trí mạng.
Chiến đấu trong hoàn cảnh thê thiết như
vậy, không mất nước mới là chuyện
lạ ?
A - ĐƯỜNG M̉N TRƯỜNG SƠN :
Hầu
hết con đường chiến lược HCM
đều nằm trên rặng Trường Sơn,
kể cả tuyến xuất phát tại Vinh (Nghệ
An), cho tới đoạn cuối cùng rẽ vào Phước
Long. Rặng trường Sơn là xương sống
của Trung phần, khởi đầu từ sông Cả
tới sông Bông (Quảng Nam), chạy dọc theo
biên giới Việt Lào. Từ bắc vào nam, có nhiều
rặng núi cao trên 2500m, như Pu-Sai-Lai-Leng ở Nghệ
An cao 2711m, Vụ Quang tại Hà Tĩnh cao 2286m, A Tuất
ở Thừa Thiên cao 2550m.. Nhưng nhờ có nhiều
đèo như Kéo Nưa trên núi Bà Mụ, đèo Mụ
Giạ ở Hà Tỉnh, đèo Lao Bảo trên quốc
lộ 9, nên sự thông thương giữa Lào-Việt
rất thuận tiện. Từ năm 1960 về sau,
Bắc Việt lợi dụng những đường
đèo trên, để nối liền nhánh Trường
Sơn Đông ở VN sang Trường Sơn Tây, hoàn
toàn nằm trên đất Lào.
Rặng
Trường Sơn từ phía nam sông Bông tới Miền
Đông Nam Phần, được gọi là Cao Nguyên
Nam Trung Phần, v́ độ cao chỉ c̣n trung b́nh
1000m, trừ phía bắc tỉnh Kon Tum, cửa ngỏ
của Bắc Việt xâm nhập vào Vùng 2 chiến
thuật, lại có nhiều rặng núi cao, rất
đồ sộ và hiểm trở như Ngọc
Lĩnh (2598m), Movia (2338m), Ngok Krin (2215m). Tại tỉnh
Pleiku, cao nguyên Nam Trung Phần, hơi cao ở mạn
đông tại ranh giới các tỉnh Phú Bổn,
B́nh Định nhưng lại thấp dần ở Miền
Ba Biên Giới. Lợi dụng địa thế thiên
nhiên vùng này, Hà Nội đă làm một nhánh rẽ,
từ Đức Cơ-Pleime xuống miền duyên hải
Trung phần.
Khởi
đầu từ năm 1959, đường ṃn HCM
do Hai xe ngựa (Vơ Bẳm) sáng tạo, thật sự
chỉ là một tuyến đường gùi vô
cùng bí mật, với “ đi không để dấu,
nấu không để khói và nói không thành tiếng
“.Sau đó theo thời gian và nhu cầu chiến cuộc,
tuyến gùi phát triển dân thành tuyến
đường thồ xe đap, rồi đường
xe ô tô với đường dây điện thoại
cùng hệ thống ống dẫn dầu, chạy
song song kế đường ṃn. Có thể gọi
đây là một Bát Trận Đồ cũng không
ngoa chút nào v́ con đường có tới hằng
trăm, hằng ngàn nhánh nhỏ, chạy chằng
chịt dọc ngang, từ đông sang tây, khắp
nam tới bắc, chẳng biết đâu mà ṃ, kể
cả VC, nếu không có giao liên hướng dẫn,
vẫn bị lạc chết đói, như
Dương Thu Hương đă kể trong tiểu
thuyết “ Vô Đề “.Sau năm 1973 khi hiệp
định ngưng bắn ra đời, Kissinger cho
phép quân Bắc Việt ở lại VNCH hợp
pháp như là một thực thể chính trị,
giúp Hà Nội ngang nhiên xây dựng con đường
chiến lược trên, thành một xa lộ đất
xe cộ xuôi ngược rộn rịp đêm
ngày. Năm 1974, chủ tịch cọng sản Cuba là
Fidel Castro đă tặng cho Hà Nội, một dàn thiết
bị máy móc, làm cầu đường do Nhật
chế và c̣n giúp một đơn vị công binh,
tới tận Quảng Trị hướng dẫn công
binh Bắc Việt, làm chiếc cầu dây treo
Dakrong, nằm trên ngă tư Khe Sanh-Tchépone và
đường ṃn. Sau đó chính Fidel Castro tới
tận chỗ để làm lễ khánh thành cầu,
c̣n được hướng dẫn đi thăm
Đông Hà, mà Bắc Việt khoe là vùng giải phóng,
từ sau trận Mùa Hè Đỏ Lửa năm 1972.
Theo
các tài liệu hiện hành của cả mọi
phía, có trong thư viện và báo chí VC sau này, th́ hệ
thống đường ṃn HCM, chạy dài từ
Trung Lào tới Cam Bốt, sự thật là hoàn
toàn nằm trên lănh thổ Lào-Miên. Con đường
này được xâm nhập vào lănh thổ VNCH bằng
năm nhánh rẽ với 21 trục giao liên, có chiều
dài tính theo đường đất tổng cộng
hơn 12.000 dặm Anh. Con đường được
mang nhiều tên và chỉ có đọan trên lănh thổ
Bắc Việt, mới được gọi là
đường Hồ Chí Minh. Riêng khúc đường
chạy trong lănh thổ Lào và Nam VN lại có nhiều
tên như đường Thống Nhất, Dân Tộc
Giải Phóng và Cách Mạng. C̣n đoạn cuối
trên đất Miên là đường ṃn Sihanouk. Để
bảo toàn bí mật, tất cả hàng hóa, quân dụng,
vũ khí và bộ đội xuất phát từ ga
Hàng Cỏ (Hà Nội) hay Vinh (Nghệ An), đều
được đưa tới cửa ngơ Tân Kỳ
(Nghệ An) hay Quán Trại (Đức Tho-Hà Tĩnh),
để vào Quảng B́nh và Quảng Trị, rồi
từ đó mới xuất tuyến xâm nhập
vào Nam. Nhưng đường đi, dù ở trong
lănh thổ Bắc Việt, vẫn vô cùng nguy hiểm,
v́ bị phi cơ Hoa Kỳ oanh tạc hằng ngày,
nhất là tại thung lũng tử thần Đồng
Lộc. Ở đây, đường chạy giữa
hai rặng núi cao, bên này là Rú Ṃi, c̣n phía kia mang
tên Sọ Voi. Đây chính là cửa ngỏ đầu
tiên, của đường ṃn HCM, nối liền
bắc VN tới lănh thổ Lào. Từ đó
đường ṃn mang tên Trường Sơn Tây,
tiếp tục tới Khâm Muôn (Lào), th́ gặp Đường
20 Quyết Thắng, từ Phọng Nhạ (Quảng
B́nh) sang. Khúc đường này dài hơn 127 km, chạy
len lỏi giữa khu rừng già Kẽ Bàng và miền
hoang địa Bulapha của Lào.
Theo
báo Aux Ecoutes du Monte, th́ hải cảngVinh (Nghệ
An), là yết hầu của đường ṃn HCM,
v́ gần như mọi thứ đều xuất
phát ở đây, để xâm nhập vào Nam. Cũng
từ đây, đường được phân
làm ba nhánh qua Lào, để tránh thiệt hại
v́ sự oanh tạc của máy bay Mỹ. Riêng tổng
hành dinh của Đoàn 559A, th́ đóng rải rác trong
khu tam giác các thị trấn Napé, Kamkeut,Kanmon.. nằm
dọc theo con sông Nam Pao của Lào. Đây là một
quân chủng đặc biệt của cọng sản
Bắc Việt, gồm công binh, vận tải,
trách nhiệm bảo tŕ, sửa chữa con
đường, đồng thời phân phối quản
trị đoàn dân công, xe tải chuyển vận bộ
đội, vũ khí, tiếp liệu từ bắc
vào chiến trường miền Nam.
Tại
ngă ba Khâm Muôn, giao điểm của hai nhánh Quyết
Thắng 20 và Tân Kỳ, đường ṃn HCM,
đi vào khu rừng già Hạ Lào, cặp kè với
con sông Nam Cà Dinh, chạy tới đỉnh dốc
đứng 1001 trên núi Răng Cọp. Từ đây
đường ṃn đổi tên thành Trường
Sơn, sau khi vượt qua vĩ tuyến 17, để
tới thị trấn Tchepone (Muang Xepon) nằm trên
quốc lộ 9. Đây cũng là phân nhánh đầu
tiên của đường ṃn Trường Sơn,
xâm nhập lănh thổ VNCH, để tấn công
các căn cứ quân sự Lao Bảo, Khe Sanh, Làng
Vei, Cà Lu.. trong tỉnh Quảng Trị. Sau đó,
đường ṃn vẫn tiếp tục chạy
trên đất Lào tới núi Ấp Bia (937m), một
địa danh nổi tiếng, trong cuộc chiến
Đông Dương lần thứ hai (1960-1975),
được một kư giả ngoại quốc,
chứng kiến tận mắt cảnh hàng ngàn xác
bộ đội Bắc Việt, bị banh thây bỏ
lại tại chiến trường, v́ bom dạn
phi pháo, nên đă đặt là Hambuger Hill. Tại
đây, đường lại được phân
nhánh tới các thung lũng A Lưới, Tà Bạt
và A Shau. Đậy là bàn đạp mà Hà Nội tập
trung bộ đội, để tấn công Thừa
Thiên và Đà Nẳng. Sau khi vượt qua cao nguyên
Boloven gần ngă ba biên giới Việt-Lào-Miên,
đường ṃn lại phân thành hai nhánh khác chạy
vào lănh thổ VNCH, một nhánh phát xuất từ
Savarane tới Dakto, Tân Cảnh, Kontum.. trước
khi ngang qua các trại Lực Lượng Đặc Biệt
Benhet, Dakto.. Nhánh khác từ Attopeu vào Pleiku, ngang qua
Trại LLĐB Đức Cơ, Pleime. Nằm giữa hai
nhánh rẽ này vẫn trên đất Lào, là mật
khu 609 của Bắc Việt. Kể từ đây,
đường ṃn Trường Sơn đổi
thành đường ṃn Sihanouk, với nhiều mật
khu như 702,701,740, 203,351,350 và 400. Trên đất Miên,
đường ṃn có một nhánh rẽ vào Phước
Long và phần cuối cùng chạy xuống tận
hải cảng Kampong Som (Sihanouk Ville) của Miên.
Chính tại đây, Bắc Việt nhận trực
tiếp hàng hóa viện trợ của Nga,Tàu và
Đông Âu, tới năm 1970 mới chấm dứt,
khi Sihanouk bị Lonnol lật đổ. Nhờ đó
Hoa Kỳ và QLVNCH mới được phép hành
quân sang đất Miên theo lời yêu câu của
chính phủ mới, nên mối tiêu diệt gần
như tất cả các mật khu của Bắc Việt
tại đây, qua các cuộc hành quân Toàn Thắng
và Cửu Long.
Tóm
lại suốt cuộc chiến Đông Dương lần
thứ hai, ngoài số nạn nhân chết bởi
bom đạn, giao tranh, phần lớn bộ đội,
cán binh cọng sản miền bắc, được
ghi nhận là ngă gục trên đường Trường
Sơn, v́ trăm ngàn nổi gian lao cực nhọc
và bệnh tật, đó là chưa kể tới chết
khi đụng trận, bị bom đạn oanh tạc,
ḿn bẩy. Hàng vạn nấm mồ hoang lạnh,
được vùi lập vội vàng, trên con
đường dài heo hút, chỉ một thời
gian ngắn, đă biến thành phân mục, bón xanh
thêm cây lá rừng hoang, như Trần Xuân Lợi,
một bộ đội vượt tuyến đă
viết :
“ Những hồi mưa
ngớt
Tựa nghĩ gốc cây
Nh́n rừng không nói
Nh́n mây chẳng thấy
Chỉ có núi đèo
Kế nhau nối tiếp
Oại là khủng khiếp
Cho cảnh Trường
Sơn ..”
Hay : “ Rải rác biên cương
mồ viễn xứ, chiến trường đi chẳng
tiếc đời xanh, áo bào thay chiếu anh về
đất, sông nuí gầm vang khúc độc hành
ố Quang Dũng “.Tất cả là sự thật,
mà Đại Tá Vơ Đại Tôn, tức nhà thơ Hoàng
Phong Linh, trong cuộc Đông Tiến bất thành, khi
trở về VN để giải phóng quê hương
sau năm 1975, đă ghi lại :
“ Đỉnh núi cao mây vờn,
đá ngh́n năm quên tuổi
ta lạc loài như dă
thú không tên
qua Tchépone, Boloven
về Hạ Lào thăm
thẳm
Atopeu đường xa muôn
dặm
Rừng tây nguyên heo hút
trong tim ..”
Con
đường có rất nhiều đoạn dài,
xuyên giữa rừng già bất tận, phi cơ
quan sát hay không ảnh cũng bó tay, ngoại trừ
sự xâm nhập của các Toán Biệt Kích, thuộc
binh chủng LLDB/VNCH.
Để
bảo vệ con đường chiến lược
này, Bắc Việt thành lập Đoàn 559A, gồm nhiều
binh trạm, mỗi nơi có quân số tương
đượng một trung đoàn tác chiến. Giữa
hai khu vực, có các toán giao liên và các kho dă chiến.
Vùng nào lo vùng nấy, không ai biết ǵ tới các
khu vực lân cận. Tóm lại, Đoàn 559A chỉ
có trách nhiệm từ vĩ tuyến 17 đổ vào
nam mà thôi. Riêng phía bên này vĩ tuyển ra tới
Bắc Việt, bổn phận tái tạo và giữ
tốt, các tuyến đường giao thông, tiếp
vận cho chiến trường, được giao
cho hàng vạn thanh niên nam nữ, trong ba tổng
đội Thanh Niên Xung Phong. Do trên đă có không biết
bao nhiêu người tuổi trẻ, phải gục
chết giữa bom đạn, khi bị bắt buộc
bám trụ tại chỗ, để mỗi lần
phi cơ Mỹ oanh tạc vừa dứt, th́ họ
với sức người và cuốc xẻng, ào ra
chiến trường, để lấp hố bom trên
mặt đường vừa bị cầy nát. Bởi
thế giao thông không bao giờ bị gián đoạn.
B - CÁN BINH, BỘ ĐỘI BẮC VIỆT TRÊN ĐƯỜNG
M̉N HCM :
Với
mục đích lường gạt dư luận thế
giới, đánh lận con đen, chối bỏ việc
trắng trợn xâm lăng VNCH, nên cọng sản
Bắc Việt lúc nào cũng tổ chức cuộc
chuyển quân vào Nam, thật bí mật. Thêm vào
đó là sự phụ họa rất ăn khớp
nhịp nhàng của một số báo chí theo VC tại
miền Nam, nên Hà Nội gần như đâm mù cả
nhân loại, khiến ai cũng tin là cuộc chiến
tại miền nam, là do chính người miền
nam v́ bất măn chính phủ độc tài tàn bạo,
nên nỗi loạn chống phá, chứ miền bắc
không hề can dự. Thời gian đầu cuộc
chiến, việc chuyển quân từ bắc vào
nam, thật vô cùng khó khăn nguy hiểm. V́ thế
chỉ có bộ binh vượt tuyến mà thôi.
C̣n vũ khí quân dụng, được chuyển
vận bằng ghe thuyền tại tuyến
đường 559B trên Đông Hải, do Đồng văn
Cống phụ trách. Trước tết Mậu Thân
1968, bộ đội Bắc Việt vào Nam,
được bồi dưỡng và huấn luyện
trong thởi gian 8 tháng, với tiêu chuẩn 2 đồng
40 xu tiền Hồ/1 ngày. Trước khi lên
đường “ sanh bắc tử nam”, các cán
binh bộ đội được cấp 5 ngày
phép về thăm gia đ́nh. V́ chủ nghĩa xă
hội miền bắc rất công b́nh, con trốn
quân dịch, cha mẹ dù có già 100 tuổi vẫn
phải đi thế, ngoài ra tất cả tem phiếu,
sổ gia đ́nh đều bị tịch thu. Nên
trong một xứ mà tất cả nhu yếu phẩm
đều phải bó buộc mua tại cửa hàng
quốc doanh, chợ nhà nước, th́ đâu có
ai dám không đi lính, để vừa khổ thân
lại làm liên lụy cho gia đ́nh. Ở Bắc
Việt, củng không có chùa, nhà thờ và trường
đại học, nên cũng không có chế độ
hoăn dịch v́ tu xuất hay học hành. C̣n du học
hay xuất ngoại , th́ chỉ dành ưu tiên cho
con cái và gia đ́nh cán bự cỡ tổng bộ
trưởng và hàng trung ưởng đảng, nên
sau khi hết phép, ai nấy đều trở lại
để lên đường vào Nam theo lệnh
đảng.
Trên
đường tiến quân c̣n trong lănh thổ Bắc
Việt, các đơn vị chính quy hành quân, vẫn
sử dụng quân phục cố hữu bằng vải
kaki Nam Định, với mũ bầu có bọc vải
dầu, màu xanh lá cây.
. Quân xa sẽ chở bộ đội tới Lào,
qua một trong ba tuyến đường chiến
lược, nối liền hai nhánh Trường
Sơn Đông và Tây, tại Đồng Lộc (Hà Tĩnh),
Phong Nhạ (Quảng B́nh) và Vĩnh Linh (Quăng Trị),
để tới biên giới VNCH. Tại đây, bộ
đội cọng sản Bắc Việt, sẽ lột
xác hoàn toàn thành người “ Giải Phóng Quân
“ trong MTGPMN của Anh Tho., chi B́nh, chị Định.Bến
Tre lập ra. Tóm lại tất cả những ǵ
có liên hệ tới cọng sản miền Bắc,
đều phải hoàn trả hết cho cán bộ
chính trị đơn vị. Từ đây bộ
đội chính quy miền bắc là giải phóng
quân miền nam, dù cả hai đều là đảng
ta đó, nên phải mặc đồ bà ba đen,
khăn rằn quàng cổ, mang dép râu, đội
mũ tai bèo, y chang như VC tại Nam phần đă
sắm tuồng từ năm 1960. Cả tới cờ
hiệu, cũng phải dùng cờ MTGPMN, nửa xanh
nửa đỏ giữa có sao vàng. C̣n bài hát th́
đă có bản “ Giải phóng miền nam “ của
Nguyễn Minh Siêng tức Lưu Hữu Phước.
Trước
khi hiệp định Ba Lê 1973 kư kết, nhằm hợp
thức hóa cũng như cho phép bộ đội
chính quy Bắc Việt, được công khai
đóng ngay trên lănh thổ VNCH, th́ sự di chuyển
trên đường ṃn HCM rất khó khăn nguy hiểm,
kể cả các tuyến giao thông chiến lược,
nối Bắc Việt với nhánh Trường
Sơn Tây, nằm trong lănh thổ Trung Lào, v́ phi cơ
Hoa Kỳ oanh tạc ngày đêm liên tục. Nên chỉ
riêng đoạn đường, từ điểm
xuất phát đầu tiên tại Tân Kỳ (Nghệ
An), tới thi trấn Tchepone (Hạ Lào), cũng phải
mất từ 2 -3 tháng. Sau đó các đơn vị
bộ đội chính quy miền bắc, được
các toán giao liên hướng dẫn vượt tuyến
và xâm nhập các trục vào lănh thổ VNCH để
hoạt động, tuỳ theo nhiệm vụ
được đảng giao phó. Sau tháng 2-1973,
không quân Hoa Kỳ chính thức rút khỏi cuộc
chiến, c̣n VNCH th́ không đủ phương tiện
để ngăn chân, nên Bắc Việt gần như
công khai hoạt động, không cần che đậy
để lừa bịp dư luận như trước.
Do trên, con đường ṃn được tu bổ
thành một xa lộ đất. Dọc đường,
thiết lập nhiều khu dưỡng quân, bệnh
xá, kho tiếp liệu. Song song là một hệ thống
ống dẫn dầu, xăng cùng một đường
dây điện thoại cao thế, do Liên Số và
các nước Đông Âu cung cấp viện trợ,
bom dầu từ các tàu nhiên liệu cập bến
ở Nghệ An. Tại các mật khu cũng như
địa điểm trọng yếu, Bắc Việt
cho bố trí một mạng lưới pḥng không dầy
đặc, với đủ loại súng đại
bác do Nga Sô, Đông Đức viện trợ như súng
cao xạ, hỏa tiễn loại 35 và 57 ly. Từ năm
1965 tới 1967, ước chừng 7000 bô đội
chính quy xâm nhập miền Nam hằng tháng. Trong
đợt tổng công kích Tết Mậu Thân 1968,
quân số cọng sản Bắc Việt, có mặt
tại lănh thổ VNCH hơn 100.000 người. Để
chuyên chở người, quân dụng và vũ khí
vào Nam trên đường ṃn Trường Sơn,
Hà Nội đă huy động một số quân
xa, từ 1250 -1700 chiếc. Những quân xa này đều
do TRung Cộng, Liên Xô viện trợ, gồm các hiệu
Zills, Molotova.. loại 130 bốn bánh và 157 sáu bánh,
có trọng tải từ 4-6 tấn. Ngoài ra có một
đoàn dân công khổng lồ, thi hành theo cái gọi
là “ nghĩa vụ lao động “, từ 16-55 tuổi
“, không phân biệt nam nữ, để giữ hộ
khẩu và được sống yên trong chế
độ công an khu vực. Hàng hóa phần lớn
được chuyển vận vào Nam bằng sức
người, xe đạp và voi.
Sau
tháng 5-1975 chiến tranh chấm dứt, có rất
nhiều bí mật được bất mí, phần
lớn nhằm làm sáng tỏ lư do thất bại của
Quân Lực Đồng Minh, Hoa Kỳ và VNCH trong cuộc
chiến Đông Dương, mà nỗ lực chính là
ngăn chận và phá vỡ hệ thống
đường ṃn Trường Sơn, hành lang
chính để cán binh bộ đội cọng sản
Bắc Việt, xâm lăng Miền Nam. Đồng thời
phơi bày ra ánh sáng, thảm trạng “ Mạng người
lá rụng “ v́ đường đi không tới,
của hằng trăm ngàn người “ sinh bắc
tử nam “.Tất cả nạn nhân chiến tranh
trên, chẳng có ai v́ nhiệt t́nh cách mang, ngu để
phải chết thảm thê v́ đụng độ,
máy bay oang tạc, hải pháo và bệnh tật
không có thuốc men chửa trị. Và dù phía VNCH
không đạt được chiến thắng cuối
cùng nhưng rơ ràng Họ đă tiêu diệt và phá
vỡ gần hết những mật khu quan trọng
của Bắc Việt, trên đuờng ṃn Trường
Sơn, như 604 tại yết hầu Tchépone-Hạ
Lào và 611 trong thung lũng Ashau, gồm nhiều binh
trạm, hậu cần, ống dẫn dầu cùng
các tổng kho tiếp tế. Tác giả Lane Rogers cũng
là Đại Tá Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ,
từng tham dự nhiều trận chiến trên
đường ṃn, đă viết :” Để bảo
vệ và hoạt động được liên tục
trên hành lang chuyển quân, Bắc Bộ Phủ
đă thí quân một cách vô nhân đạo. Đó là
lư do nhiều lần con đường chính và năm
nhánh rẽ vào Nam VN, tưởng như đă bị
phá vỡ hoàn toàn. Nhưng rồi đoàn kiến
người cũng t́m đủ mọi ngơ ngách
khác để xâm lăng miền Nam. Riêng Thống
Tướng Westmoreland,cựu Tư Lệnh Quân Lực
Hoa Kỳ và Đồng Minh, chiến đấu tại
VN, th́ giải thích lư do thất bại của Mỹ,
trong nỗ lực hủy diệt con đường
này, phần lớn do trở ngại thiên nhiên,là
chốn ma thiêng nước độc, gây sự sợ
hăi chết chóc nhiều nhất trên thế giới.
3
Máu Đẵm Trường Sơn (1960-1975) :
Hai mươi năm chiên cuộc VN, đă cướp
mất đi hằng triệu thanh niên nam nữ hai
miền đất nước, cũng như đồng
bào vô tội. Sự
tủi nhục và đau ḷng nhất, riêng chỉ
có kẽ trong cuộc và dân chúng xă nghĩa Bắc
Việt mới hiểu thấu. Riêng người miền
Nam sống tại các đô thị lớn như Sài
G̣n, Huế, Cầm Thơ.. gần hết chỉ hiểu
một cách đại khái, mù mờ, qua tài liệu,
báo chí và sự tuyên truyền của cả hai
phía. Họ đâu có bao giờ biết rằng,
trong suốt cuộc chiến, Bắc Việt, Hoa Kỳ
và QLVNCH, đă dành giựt từng thước
đất trên đỉnh Trường Sơn, v́ một
bên th́ quyết ḷng dùng máu xương người
để xây huyết lộ, c̣n phía bên kia cũng
lấy mạng sống, bom để phá hủycho tận
tuyệt. Nói chung cả hai phía đều sử dụng
tối đa mạng sống con người Việt,
qua các khẩu hiệu hào nhoáng nhưng mặt thật,
cũng chỉ để phục vụ cho quyền
lợi riêng tư của họ mà thôi.
A-VỀ PHIÁ CỌNG SẢN
BẮC VIỆT :
Sau
khi Thủ Tướng Liên Xô Nikita Khrowshchev, phát
pháo mở màn cuộc chiến giải phóng toàn cầu
vào ngày 6-1-1961, cũng là thời gian khởi đầu
cho tới ngày 30-4-1975, Bắc Việt xâm lăng
cưỡng chiếm VNCH. Ngoại trừ các chóp bu
ngồi tại Bắc Bộ Phủ, không ai có thể
biết rơ, đă có bao nhiêu cán binh, dân công và
thanh niên xung phong đă bị thương vong v́ cuộc
chiến. Phần th́ cọng sản quen bưng bít
sự thật, hơn nửa trong chủ nghĩa thiên
đàng, không có chế độ thươg binh
ngoài mặt trận. Nên tất cả những
điều Đảng tuyên bố, gần như là
tuyên truyền láo bịp, nên sự thật đâu
biết sao mà ṃ ? Nhưng chắc chắn có điều,
gần hết các trận đánh khốc liệt ,
đều xảy ra trên hành lang chiến lược
Trường Sơn, từ sự hủy diệt bằng
bom ḿn, hàng rào điện tử, chiến tranh khí
tượng, thuốc khai quang, không quân cho tới
những đụng độ trực tiếp giữa
Bắc Việt với Hoa Kỳ và VNCH, mà cao điểm
là cuộc hành quân Lam Sơn 719, tại Hạ Lào-1971.
Trên
lănh thổ Bắc Việt, trực diện với
bom đạn hằng ngày, là những nam nữ
thanh niên, trong các Tổng Đội Thanh Niên Xung Phong.
Nhiều người đă bị chết một
cách oan khiên tức tưởi, tại ngă ba Đồng
Lộc (Hà Tĩnh), Đường 20 Quyết Thắng
(Quảng B́nh), Hưng Hóa (Quảng Trị ).khi bị
bắt buộc thi hành các công tác hiểm nguy như
giao liên đơn độc giữa rừng núi
muôn trùng, làm mốc hướng dẫn đoàn xe
đến các địa điểm tránh bom Mỹ..
Trong muôn ngàn thảm kịch, được
đưa lên phim quảng cáo, vẫn thảm nhất
là cái chết của 10 cô gái TNXP, thuộc Tiểu
Đội 4/Tổng Đội 53 ố Hà Tĩnh, bị
bom đánh sập, chôn sống tập thể tại
Ngă Ba Đồng Lộc, vào sáng ngày 24-7-1968. Hoặc
chuyện bốn cặp TNXP và công binh, cũng bị
chết ngạt trong một cái hang núi tại Kẽ
Bàng (Quảng B́nh).. Nhưng đây cũng chỉ là
một trong hằng triệu cái chết vô danh của
phận người xấu số trong chiến
tranh, nếu đem so sánh với những cái chết
khác tại các tuyến đường rẽ vào
lănh thổ VNCH.
Không
kể đến sự đụng độ
thường xuyên giữa các Toán Biệt Kích Quân
cảm tử, thuộc Binh chủng LLDB/VNCH và cán
binh Bắc Việt, trên mọi ngơ ngách của
đường ṃn Trường Sơn, ngay cả
trong lănh thô Bắc Việt. Kể từ năm 1965
tới khi có Hiệp định Ba Lê 1973, đă có
không biết bao nhiêu trận đánh lớn giữa
cọng sản miền bắc và quân lực Đồng
Minh, Hoa Kỳ cũng như QLVNCH. Điển h́nh như
các trận PLEIME -1965, giữa Toán A217 Biệt Lích Mỹ-Việt,
TĐ91BCD/LLDB, TD1/TrD45/SD23BB, TD21+22/BDQ,Chi Đoàn 3 Thiết
kỵ/VNCH với 3 Trung Đoàn 32,33,66 cong sản Bắc
Việt. Ngày 27-10-1965, SD1kỵ binh không vận Hoa Kỳ,
hành quân tại thung lủng IA-DRANG, Pleiku, bẻ găy
âm mưu tập trung của 3 SD Bắc Việt, nhằm
chia cắt VNCH thành hai mănh. Tháng 12-1965, Bắc Việt
lại tấn công 2 Trại LLDB .Tà Bạt, A Lưới
(Thừa Thiên), một trận đụng độ
đẵm máu giữa cọng và Mỹ+VNCH tại
căn cừ Ashau, một tiền đồn ngăn
chận cán binh Hà Nội, tràn xuống miền
duyên hải.
Mùa
thu năm 1967, Bắc Việt tấn công đồng
loạt nhiều tiền đồn VNCH trên
đường rẽ vào Chiến khu C (Phước-B́nh
Long) cũng như Kontum, v́ 2 khu vực này là cửa
ngơ chiến lược quan trọng nhất trên
hành lang xâm lăng VNCH của cọng sản Bắc
Việt. Để giải tỏa áp lực tại Tiền
đồn Dakto, 16 tiểu đoàn thuộc SD4BB
+SD.Dù/Hoa Kỳ và Lực lượng Nhảy Dù VN,
đă ác chiến với 1 SD.Bắc Việt, thương
vong hai phía rất nặng.
Trên
QL9 từ Hạ Lào vào Quảng Trị, có Tiền
Đồn Khe Sanh là căn cứ của Biệt kích
quân VNCH, thành lập từ tháng 7-1962. Đây cũng là
điểm xuất phát các Phi Vụ Tiger Hound rải
quân xâm nhập đường ṃn HCM. Như các căn
cứ Cồn Tiên, Gio Linh, Caroll, Cam Lộ.. Khe Sanh
là các tiền đồn, đối diện với
vùng biên giới phía bắc khu phi quân sự vỹ
tuyến 17 lănh thổ Bắc Việt. Bởi vậy
cọng sản luôn t́m mọi cách tiêu diệt cái
gai nhọn Khe Sanh, đâm vào yết hầu
đường ṃn Trường Sơn. Cuối
năm1967, trưóc khi mở màn cuộc tấn công
đẫm máu Tết Mậu Thân 1968, Vơ Nguyên Giáp
đă mở một mặt trận Điện Biên Phủ
thứ 2 tại thung lũng Khe Sanh, với ư muốn
dụ quân Mỹ vào rọ để tiêu diệt
như đă từng xảy ra vào năm 1954 trên
đất bắc. Nhưng Giáp đă tính toán sai,
v́ Hoa Kỳ mạnh hơn Pháp cả 100 lần, lại
có một lực lượng hải pháo không quân
hùng hậu, nên cuối cùng Bắc Việt phải
chém vè về Hạ L2o, bỏ lại tại Khe Sanh
hơn 20.000 xác bộ đội, tỷ lệ 90% quân
số tham dự trận chiến. Cũng tại
đây, ngoài quân Mỹ, c̣n có một đơn vị
VNCH duy nhất được tăng phái, đó là
TD37 Biệt Động Quân. Đơn vị này dù quân số
ít ỏi, lại bị nằm tiền đồn
nhưng suốt thời gian chiến cuộc, đă
giữ vững được pḥng tuyến phía nam
của căn cứ Khe Sanh, qua nhiều đợt tấn
công biển người của SD304 Bắc Việt.
Trong
cuộc tổn công kích Tết Mậu Thân 1968, cọng
sản thất bại hoàn toàn trên chiến trường,
nên hầu hết tàn binh đều rút về phía
bên kia biên giới Việt-Miên-Lào, trên đường
ṃn Trường Sơn. Phía VNCH và Hoa Kỳ đă
mở nhiều cuộc hành quân truy quét. Tại
Vùng 1 chiến thuật, ngày 16-4-1968 SD1ky binh Mỹ +
TrD3/SD1BB/VN hành quân Lam Sơn 216-Dela Ware tảo thanh vùng
A Lưới. Kế tiếp hành quân Sonerset Plain Lam
Sơn 246 của SD101Dù Mỹ + TrD1/SD1BB/VN tại
vùng A Lưới, Tà Bạt và mật khu 609. Đầu
năm 1969, SD101Dù + TrĐ9/TQLC/HK + TrD3/SD1BB/VN tảo
thanh thung lũng A Shau. Vùng này có một ngọn núi
cao trên 1000m, nằm ngay biên giới Lào-Việt, như
một b́nh phong án ngữ các căn cứ A Lưới,
Tà Bạt, A Sha. Một trận đụng độ
kinh khiếp đă xảy ra tại đây giữa
hai phía. Cùng tham chiến, không quân, pháo binh và các
pháo đài bay B52, đă giội xuống chiến
trường hơn một triệu cân Anh bom các loại,
trong số này có 152.000 cân Anh bom lửa, khiến
cho đồi núi, cỏ cây, rừng xanh và xác cán
binh bộ đội cọng sản Bắc Việt
bỏ lại khi chém vè, đều biến thành tro
bụi. Cảm thương cho số phận con
người v́ tem phiếu, hộ khẩu, mà phải
sinh bắc tử nam, nên một kư giả Mỹ có
mặt tại trận địa, viết bài trên
báo, đă ví von đặt tên núi Ấp Bia là
Hamburger Hill. Sau này, báo chí VC hănh diện tuyên truyền
với thế giới, v́ Mỹ chết nhiều
quá, nên mới có cái tên ngộ nghĩnh trên.
Nhưng
một biến cố cực kỳ quan trọng trên,
gần như làm đảo lộn chiến lược
xâm lăng miền nam của Bắc Việt,
cũng như chiến thắng gần kề của
VNCH, nếu như Nixon-Kissinger không bán đứng
Miền Nam cho Bắc Việt, qua cai gọi là Hiệp
định Ba Lê 1973. Đó là cuộc chính biến
trên đất Miên vào năm 1970. Ai cũng biết
Kampuchia từ năm 1960, là hậu cứ an toàn của
cọng sản Bắc Việt, để nhận trực
tiếp hàng hóa quân dụng viện trợ của
các nước XHCN, tại hải cảng Sihanouk
Ville nằm trong vịnh Thái Lan. Đây cũng là tổng
hành dinh của Cục R, đầu năo chỉ huy của
đảng bộ cọng sản miền nam, qua ngụy
danh MTGPMN. Ngày 18-3-1970, Lonnol lật đổ Sihanouk
và theo Mỹ. Quân Miên cũng được lệnh
tấn công các mật khu của Bắc Việt
trên đất Miên. Chiến tranh đă nổ toàn
diện trên đất chùa Tháp. Liên quân Khmer Đỏ
của Polpot và VC phản công và bao vây thủ đô
Nam Vang, đồng thời người Miên qua sự
xúi ngầm của tân chính phủ Lonnol, đă
đồng loạt “ CÁP DUỒNG “ Việt Kiều
khắp nơi, gây thảm trạng thương
đau cho hằng vạn người dân vô tội,
bị vạ lây do Bắc Việt gây ra từ mấy
năm trước.
Để
cưú đồng bào về nước, đồng
thời mượn dịp thanh toán các căn cứ
địa và cục R tại biên giới Việt-Miên,
theo yêu cầu của Lonnol. Do trên,QLVNCH đă tổ
chức cac cuộc hành quân rất qui mô, mang tên
Toàn Thắng 41,42,43 do QD3 đảm trách. Song xong QD2
cũng hành quân B́nh Tây và QD4 có hành quân Cưu
Long. Trừ cuộc hành quân Toàn Thắng 43, do lưc
lượng hỗn hợp Việt-Mỹ, gồm
SD1 Không vận Hoa Kỳ + Lữ Đoàn 3 Nhảy Dù
và Thiết Đoàn 2 kỵ binh/VN. Tất cả các cuộc
hành quân khác, đều đo QLVNCH đảm trách,
đă giúp Lonnol chiếm lại thủ đo Nam
Vang, hải cảng Sihanouk Ville, đồng thời
phá vỡ gần như toàn diện các mật khu của
VC, trong đó có Trung Ương Cục R. Trên biển
Đông, Hải quân Mỹ c̣n tổ chức cuộc
Hành quân Market Timer, để truy đuổi các tàu
thuyền của Bắc Việt, trong việc chuyển
vận quân trang dụng vào Nam, bằng tuyến
đường biển 559B.
Để
cứu sống đoàn quân xâm lăng đông đảo,
đang có mặt ở miền nam, trong lúc các căn
cứ tiếp vận tại Miên vừa bị phá
hủy, nên cọng sản Bắc Việt đă gia
tăng quân lực, bằng mọi giá giữ vững
cho được Huyết lộ HCM trên đất
Lào, mà trọng điểm là Thị trấn hoang
tàn Tchépone. Đây cũng lư do mà QLVNCH đă mở cuộc
Hành quân Lam Sơn 719 tại Hạ Lào năm 1971, một
trận chiếm đẫm máu nhất trong Đông Dương
thế chiến 2 (1960-1975). Phía VNCH có 17.000 quân tham
dự, gồm các SD Nhảy Dù, SD TQLC, SD1BB, Liên
Đoàn 1BDQ và Lữ Đoàn 1 Thiết Giáp. Về phía cọng
sản Bắc Việt có Quân Đoàn 70B, các SD2,
304,308, SD pḥng không.. Quân Mỹ chỉ đóng bên
kia biên giới, yểm trợ không vận, hải
pháo, pháo binh.. Cuộc hành quân kết thúc ngày
25-4-1971 sau khi Trung Đoàn2/SD1BB/VNCH tiến vào thị
trấn Tchépone. Dù bị thiệt hại rất nặng
nhưng QLVNCH đă phần nào đạt được
mục tiêu chiên lược, là phá hủy hoàn toàn
nhiều căn cứ tiếp liệu của Bắc
Việt, tại mật khu 609 và 611 trên đường
ṃn HCM.
B-VỀ PHÍA VNCH :
Trong
suốt cuộc chiến, hầu như tất cả
mọi binh chủng của QLVNCH đều có mặt
tại đường ṃn Trường Sơn, kể
cả Cảnh Sát Dă Chiến, Xây Dựng Nông thôn,
DPQ+NQ.. Tuy nhiên đă có một Binh Chủng Đặc
Biệt, từ ngày thành lâp vào năm 1957, tới
khi ră ngũ tan hàng, đă đơn độc hoạt
động âm thầm trong ḷng địch , trên suốt
đường ṃn HCM từ đông sang tây, ngay cả
trong lănh thổ của Miên và Lào. Họ là những
chiến sĩ “ BIỆT KI’CH-BIỆT CÁCH “,
không có sự yểm trợ nào của đơn vị
bạn và hoàn toàn tụ lực cánh sinh để
mà sống trong núi rừng, nhiều nơi chưa hề
có dấu chân người.
Binh
chủng LLDB có cấp số sư đoàn, bao gồm
các đơn vị như Sở liên lạc, Sở
công tác, Sở khai thác địa h́nh, các liên
đoàn tác chiến 31, 77, 81 Biệt cách nhảy dù
và Trung tâm Huấn luyện LLDB.Đông Ba Th́n tại
Cam Lâm-Khánh Ḥa.
Như
Kinh Kha ngày xưa, các chiến sĩ Biệt Kích ra
đi ít khi được trở về. Một số
ít đă bị bắt tại Bắc Việt và chịu
kiếp tội đồ, tới nay nhiều người
vẫn c̣n chưa được thả. V́ họ
chính là kẻ thù không đội trời chung và cũng
là khắc tinh của cọng sản, trên suốt
đường ṃn. Tóm lại nơi nào có VC th́ nơi
đó có LLDB. Hai bên đă trường kỳ đấu
trí trong suốt cuộc chiến , qua đủ mọi
h́nh thức. Nhưng v́ lư do bảo mật, nên cả
hai phía, đều không muốn nhắc tới.
C-VỀ PHÍA HOA KỲ :
Từ
năm 1961, Lào trở thành một quốc gia trung lập,
nên chính phủ Mỹ đă bị Quốc Hội,
nhất là tên thượng nghị sĩ đảng
dân chủ thân cộng William Fullbright và cái gọi
là ủy ban ngoại giao, t́m đủ mọi cách
ngăn chận cấm đoán quân Mỹ can thiệp
vào đất Lào. Trong lúc đó, cọng sản Bắc
Việt không hề đếm xỉa tới cái gọi
là hiệp định Genève 1961, tự tác mở
con đường Tây Trường Sơn ngay trên
đất Lào, để làm hành lang chuyển quân
và tiếp vận xâm lăng miền nam. Cũng do
Quốc Hội trói buộc, nên từ đời TT
Kennedy cho tới Johnson, cả hai đều dè dặt
trong quyết định dùng vũ lực tiêu diệt,
ngăn chận sự xâm nhập của cán binh bộ
đội, trên đường ṃn HCM.
V́
không thể sử dụng bộ binh, để tránh
né khỏi bị công luận thế giới và quốc
hội chỉ trích, người Mỹ đă dùng
các phương tiện chiến tranh khác như oanh
tạc, khai quang và dùng hàng rào điện tử.
Ngay cả việc sử dụng không quân để
oanh tạc cũng vô cùng bí mật, lúc đầu
đều do các phi công thuê của Thái Lan, Đài Loan
đảm trách. Về sau v́ Bắc Việt đă
được Liên Xô giúp thiết trí một mạng
lưới pḥng không dày đặc, với đủ
các loại đại bác, hỏa tiễn tối
tân 35,57 ly .. làm nhiều thám thính cơ bị bắn
hạ. V́ vậy để thích ứng với hoàn
cảnh, Hoa Kỳ quyết định xử dụng
những phi cơ oanh tạc Thunderchiefs từ Thái
Lan, cùng các phi cơ F105, pháo đài bay B52.từ căn
cứ Guam, cũng như các Hàng Không Mẫu Hạm
bỏ neo trên Thái B́nh Dương, để oanh tạc
liên tục con đường ṃn HCM, trên đất
Bắc, Lào-Miên và trong lănh thổ VNCH. Riêng chủ
trương của Tướng Westmoreland, tư lệnh
các lực lượng Mỹ và Đồng Minh tham chiến
tại VN, th́ luôn muốn dùng bộ binh, để
cắt đứt đường ṃn HCM ngay trên
đất Lào. Nhưng ông đă bị Quốc Hội
Mỹ chống đối kịch liệt v́ sợ
vi phạm hiệp định Geneve 1961. Ngoài ra Mỹ
cũng luôn lo sợ va chạm quân sự với
Trung Cộng, khi tung quân vào Lào để hủy diệt
con đường chiến lược HCM. Đây cũng
là những bí ẩn trong cuộc chiến VN mới
được bật mí. Năm 1968 kế hoạch
vượt biên đánh sang Lào để hủy diệt
đường ṃn HCM, mang tên EL-PASO sắp
được Quốc Hội Mỹ phê chuẩn,
th́ xảy ra trận Tết Mậu Thân 1968 nên chiến
dịch trên đă bị hủy diệt.
12
giờ trưa ngày 30-4-1975, nhờ Tổng thống
Dương văn Minh với quyền hạn của
Vị Tổng Tư lệnh tối cao, ra lệnh
cho QLVNCH lúc đó đang c̣n chiến đấu khắp
các mặt trận, buông súng đầu hàng giặc.
Nhờ vậy mà đoàn xe tăng của Liên Xô,
chở quân cọng sản Bắc Việt, mới
bon bon chạy được trên đoạn chót của
đường ṃn HCM, là đại lộ Thống
Nhất-Sài G̣n, rồi ủi sập hai cổng sắt
để vào dinh Độc Lập, trống trơn không
có pḥng thủ, lính gác.
Sài
G̣n hai mươi năm dưới chế độ
VNCH, gần như lúc nào cũng có biểu t́nh. Thế
nhưng trong ngày “ vinh quang của đảng-bác
“, một cơ hội vàng ṛng để người
miền nam tha hồ xuống đường hoan hô
ḥa b́nh, ăn mừng.Tuy nhiên mọi điều xảy
ra lại hoàn toàn trái ngược, chứng tỏ
người miền nam không phải ai cũng hồ
hởi tin hay thân cộng, như một số báo
chí thời đó đă xướng. Theo hằng
trăm nhà báo ngoại quốc có mặt hôm đó,
trong số này có nhiều người thân cộng,
cho biết : “ trưa 30-4-1975, khi quân Bắc Việt
vào Sài G̣n, đă không có cảnh người thủ
đô hàng hàng lớp lớp, túa ra đường,
miệng la cờ phất.. như họ từng làm
qua nhiều biến cố trong quá khứ. “.Nói
chung chỉ có cán bộ đảng và SD304 khăn
đỏ tân lập ra chào đón quân ta về,
c̣n dân chúng Sài đô lớp th́ chạy trối chết
theo chân Mỹ đi ngoại quốc, số khác lo
chôm đồ .. nên có ai rănh để mà biểu
t́nh, xuống đường như đảng mong
đợi.
Sau
đó Hà Nội cho thu lượm hài cốt cán
binh bộ đội đă chết trên đường
ṃn, tập trung làm nghĩa trang Trường
Sơn, tại xă Gio An, quận Gio Linh, tỉnh Quảng
Trị. C̣n Tỉnh Uỷ B́nh-Trị-Thiên th́ tổ
chức tour du lịch, để du khách trong và
ngoài nước tới thăm mấy cái xác xe tăng
Mỹ, cây cầu treo Dakrong do công binh Cu Ba làm tặng
và đồi Hambuger Hill.. Riêng đường
Trường Sơn tây th́ bỏ hoang hoàn toàn và mới
đây Lào cho phép Trung Cộng trùng tu, nối liền
xa lộ Vân-Nam-Bắc Trung Lào mà tương lai con
đường này sẽ thông tới hải cảng
Kompong Som của Kampuchia, như năm xưa Bắc
Việt đă làm.
Nay
ngồi ngẫm nghĩ , mới thấy nhà văn
Xuân Vũ viết “ Đường đi tới mà
không tới “ là đúng sự thật.
‘
trăng chiến khu năo nùng sầu vạn kỹ
núi
ngh́n năm quên tuổi đứng cô đơn
đoàn
quân xưa hào khí ngút mây vờn
trời
quái ác làm vỡ tan tận tuyệt
..
đây c̣n có nhiều bạn bè Phan Thiết
đă
vùi thây trong rừng lạnh tây nguyên
họ
bây giờ là những cánh chim đơn
hót
ảo năo nơi lũng đèo khe núi..
’ ’
Tết 2005
Xóm Cồn Hạ Uy Di
Viết nhớ bạn hiền
Cố Đại Uư Trần
Văn Thân
Trưởng Toán LLDB
Mất xác trên nhánh rẽ
đương ṃn HCM
Tháng chạp 1974
HỒ ĐINH-MƯỜNG
GIANG
TD1/TrD43/SD18BB
Kbc 4424 3435 - 4508