CỘNG SẢN + ĐỘC ĐẢNG = 
NGHÈO ĐÓI  & TỤT HẬU!


 

NGƯỜI ĐI LAO ĐỘNG Ở NƯỚC NGOÀI  BỊ  HÀ NỘI KHAI THÁC

 

  •  ĐẠI-DƯƠNG

 

     Chính quyền cộng sản Việt Nam , từ nhiều năm qua, đă triệt để khai thác kế hoạch đưa người đi lao động ở nước ngoài (trong lĩnh vực trí óc cũng như chân tay) nhằm giảm áp lực thất nghiệp tại quốc nội và thu ngoại tệ.

     Đồng thời, Hà Nội vận dụng khối nhân lực này cùng với khối du học sinh hỗ trợ cho các hoạt động ngoại giao của Nhà nước. Họ bênh vực cho đường lối chính sách của đảng cộng sản trên internet, hiện diện tại các cuộc tập họp của Đại sứ quán hoặc Lănh sự quán, tham dự các cuộc tŕnh diễn văn nghệ có sự chỉ đạo của Hà Nội, loan truyền chính sách cởi mở đổi mới của Nhà nước Cộng ḥa xă hội chủ nghĩa Việt Nam.

     Khối du học sinh và lao động nước ngoài có gây được ảnh hưởng thuận lợi cho chính sách của Nhà nước Cộng ḥa xă hội chủ nghĩa Việt Nam hay không c̣n tùy thuộc rất nhiều vào sự khôn khéo và cương quyết của cộng đồng người Việt hải ngoại. 

     Các cơ quan thẩm quyền, tổ chức được phép xuất khẩu lao động, báo chí quốc doanh thường tung ra những số liệu thổi phồng nhằm khuyến khích dân chúng nhảy vào cạm bẩy để thu lợi.

     Hôm 05-01-05 của VnExpress loan tin 67,000 lao động xuất khẩu trong năm 2004 đă gửi về nước 1.6 tỉ mỹ kim.

     Nhà nước qui định chỉ tiêu xuất khẩu lao động năm 2004 là 60,000 người. Bộ Lao động Thương binh và Xă hội hôm 23-11-04 cho biết đă xuất khẩu 56,000 lao động vào thị trường Đài Loan: 32,000 người, Lào: 5,800, Đại Hàn: 2,800, Nhật Bản: 1,800 ... Chẳng lẽ, chỉ trong 1 tháng lại xuất cảng đến 11,000 lao động nếu so với con số do VnExpress loan báo. Hoặc giả, các cơ quan, tổ chức có trách nhiệm đă làm ảo thuật số để tâng công với Nhà nước trong tổng kết cuối năm?

     Dựa theo số liệu của VnExpress th́ mỗi người đi lao động nước ngoài đă gửi về 23,881 mỹ kim/năm, suưt soát 2,000 mỹ kim/tháng. Người lao động không cần trang trải chi phí cho nhu cầu thường nhật vốn chiếm phần lớn lương bổng của mỗi người? Thực sự, lương của người lao động chân tay tại Đại Hàn, Mă Lai Á, Đài Loan, Nhật Bản ... có quá lớn như vậy không?

     Ngô Văn Thu, Giám đốc Trung tâm Dịch vụ - Du lịch & XKLĐ thuộc OSC VN, cho biết thu nhập b́nh quân của mỗi lao động ở Anh 1,300 USD, được coi như thị trường có thu nhập cao.

     Tương tự như thế, số lượng 3.6 tỉ mỹ kim kiều hối trong năm 2004 do Nhà nước công bố cũng chỉ nhằm khai thác tâm lư ghen tị của người Việt hải ngoại để họ ganh đua mà gửi nhiều ngoại tệ cho thân nhân.

     Có thể, VnExpress phóng đại nhằm khai thác tâm lư so b́ của người lao động để họ thắt lưng buộc bụng và làm thêm việc dù bất hợp pháp, đồng thời cũng khuyến khích gia đ́nh người đi lao động có cớ đ̣i hỏi thân nhân nhiều hơn.

     Người muốn đi lao động ở nước ngoài càng nhiều th́ các cơ quan, tổ chức được phép xuất cảng lao động càng thu nhiều lợi nhuận qua các dịch vụ thu nhận, huấn luyện, môi giới ... Hầu hết các cơ quan, tổ chức xuất khẩu lao động đều trực thuộc các Bộ hoặc công ty quốc doanh.

     T́nh trạng độc quyền lại đẻ ra vô số loại c̣ mà mọi chi phí đều trút lên đầu  người lao động. Chí phí quá cao khiến người lao động khi ra nước ngoài thường bỏ trốn để làm chui.

     Cục trưởng Cục Quản lư lao động ngoài nước Nguyễn Thanh Ḥa hôm 20-01-05 thừa nhận "Chi phí lớn đang là một trong những nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ lao động Việt Nam bỏ trốn cao".

     Lao động bỏ hợp đồng ở Nhật Bản, Đại Hàn, Mă Lai Á, Đài Loan đă gây nhiều khó khăn cho các quốc gia thu nhận trong năm 2004 nên đưa ra các quyết định hạn chế hoặc ngưng tiếp nhận người lao động Việt Nam.

     Hội Đồng Lao Động Sự Vụ Đài Loan quyết định tạm ngưng nhận thêm người lao động giúp việc gia đ́nh và chăm sóc người bệnh kể từ 20-01-05 v́ số bỏ trốn quá nhiều và qui trách cho Hà Nội không chịu tiếp nhận 2,000 lao động bất hợp pháp tính đến cuối năm 2004 như đă hứa.

     Năm ngoái, Đài Loan đă ngưng tiếp nhận công nhân đánh cá Việt Nam cũng v́ lư do tương tự.

     Thời báo Kinh tế 24-11-04 loan tin "Phía Đài Loan yêu cầu Việt Nam đến hết năm 2004 phải đưa về nước ít nhất 50% số lao động bỏ trốn, tức khoảng 5,000 người trong tổng số hơn 10,000 lao động.

      Nhiều cán bộ của Cục Quản lư lao động ngoài nước cùng với hơn 200 cán bộ thuộc 60 doanh nghiệp xuất khẩu lao động đă sang Đài Loan trong 15 ngày trong tháng 11-04 chỉ bắt được 200 lao động bất hợp pháp với sự hợp tác của cảnh sát sở tại. Tổng cộng trong năm 2004, chỉ bắt được 900 so với 8,000 lao động Việt Nam bỏ trốn tại Đài Loan.

     Có lẽ, do sự làm việc kém hiệu quả, thiếu thiện chí của cán bộ doanh nghiệp Việt Nam trong việc truy bắt người lao động bất hợp pháp nên chính quyền Đài Bắc chỉ cấp chiếu khán 14 ngày và không cho phép gia hạn. Trước kia, "cán bộ doanh nghiệp khi sang Đài Loan đều được cấp visa nhiều lần, thời hạn 2 tháng, cho phép gia hạn thêm 2 lần, tổng cộng mỗi visa có giá trị tới 6 tháng và được xuất nhập cảnh Đài Loan nhiều lần".

     Chi phí để bắt 200 lao động bất hợp pháp được chiếc tính: 1 triệu Đài tệ trả cho cảnh sát và người chỉ điểm. Chưa kể tiền vé máy bay, ăn, ở, đi lại và du hí cho hơn 200 cán bộ Cục và doanh nghiệp.

     Những quan chức mẫn cán này tính chuyện moi tiền từ hai loại Quỹ liên hệ tới xuất khẩu lao động. Quỹ thứ nhất để đặt cược khi doanh nghiệp xin giấy phép, sử dụng vào mục đích đưa lao động về nước mỗi khi lao động gặp rủi ro do khách quan mang lại. Mỗi doanh nghiệp bị bắt buộc phải đóng 500 triệu, hiện tại quỹ này có khoảng 75 tỷ đồng. Thứ hai là Quỹ hỗ trợ xuất khẩu lao động, thu dịch vụ 1%/lao động của doanh nghiệp phải đóng hàng năm. Quỹ này cũng rất lớn, nhưng chưa được cập nhật hóa.

     Kế hoạch xuất khẩu 70,000 lao động trong năm 2005 có thể bị ảnh hưởng do tỉ lệ bỏ trốn của người đi lao động nước ngoài ngày càng cao nên Hà Nội đang t́m biện pháp đối phó.

     Thông tư số 01 ngày 18-01-05 của Bộ Công an và Bộ Lao động Thương binh Xă hội quy định các h́nh phạt kỷ luật, hành chính, h́nh sự đối với 8 hành vi phạm luật: Lợi dụng danh nghĩa xuất khẩu lao động để lừa đảo; tổ chức đưa người trốn ra nước ngoài; tuyển chọn lao động, đào tạo, thu tiền và đưa người VN đi làm việc ở nước ngoài trái quy định của pháp luật; người VN trong thời gian làm việc ở nước ngoài tự ư bỏ hợp đồng; lao động VN ở nước ngoài có hành vi lôi kéo, dụ dỗ người khác bỏ trốn; giả mạo giấy tờ hoặc lợi dụng chức vụ, quyền hạn chứng nhận sai giấy tờ để đi làm việc ở nước ngoài; lao động VN vi phạm pháp luật của nước sở tại làm ảnh hưởng đến quan hệ chính trị, ngoại giao giữa hai nước; hoạt động của một số cá nhân, tổ chức VN ở nước ngoài chống đối chính sách xuất khẩu lao động của Nhà nước VN.

     Đặc biệt, trong điều khoản chót, Hà Nội tính dằn mặt những kẻ yếu bóng vía trong cộng đồng người Việt hải ngoại. Thực tế, Hà Nội chẳng có tí quyền hạn nào đối với đa số người Việt hải ngoại v́ không nằm dưới sự chế tài bởi luật pháp của Nhà nước Cộng ḥa xă hội chủ nghĩa Việt Nam .

     Thay v́ hợp tác với Đài Loan để thực thi nghiêm chỉnh các cam kết về xuất khẩu lao động th́ Cục Quản lư lao động ngoài nước lại mở một hướng chui khác mặc dù dự đoán Đài Loan sẽ hủy bỏ lệnh tạm nhập trong đệ nhất tam cá nguyệt 2005.

     Cục trưởng Nguyễn Thanh Ḥa cho biết "Đài Loan chỉ dừng tiếp nhận lao động thông qua DN môi giới ... Cục Quản lư lao động ngoài nước đă bàn và sẽ có hướng dẫn cụ thể để giúp người lao động trực tiếp liên hệ t́m việc. Có thể sẽ áp dụng mô h́nh chủ sử dụng lao động đăng kư nhu cầu với Ban Quản lư lao động Việt Nam tại Đài Loan, căn cứ vào thông báo của Ban này, Cục Quản lư lao động ngoài nước sẽ giới thiệu người lao động".

     Ḥa cũng cho biết đang chuẩn bị tŕnh Nghị định chống lao động bỏ trốn với nhiều biện pháp rất mạnh.

     "Nhà nước của người lao động" vẫn duy tŕ chính sách độc quyền nên tạo ra nhiều thành phần môi giới khiến cho tất cả chí phí trút lên đầu người lao động quá cao buộc họ phải bỏ hợp đồng.

     Hà Nội nên tạo điều kiện thuận tiện và dễ dăi cho người đi lao động nước ngoài thay v́ ra sức ḅn rút mồ hôi nước mắt của họ song song với các biện pháp chế tài gay gắt.

 

                                                                  ĐẠI-DƯƠNG