SO
SÁNH HAI VỤ NHƯỢNG ĐẤT
CHO
TRUNG HOA
Trung Hoa là một nước
rộng lớn ở phía bắc nước Việt
Nam
. Trong lịch sử bang giao giữa hai nước từ
khi lập quốc cho đến ngày nay, khi nào nước
Việt Nam yếu, nội bộ chia rẽ, mà Trung
Hoa mạnh, th́ những nhà lănh đạo Trung Hoa
xua quân xâm lăng nước Việt. Tuy nhiên, khi
những địch thủ bắc phương xuất
hiện, người Việt lại đoàn kết
để đẩy lui các cuộc xâm lăng, giữ
vững nên độc lập nước nhà. Người
Việt luôn luôn cương quyết bảo toàn
đất tổ, nhưng trong lịch sử, cho
đến nay, rất tiếc có hai lần nhà cầm
quyền Việt đă kư kết văn bản
nhượng đất cho Trung Hoa. Đó là nhà Mạc
vào giữa thế kỷ 16 và đảng Cộng Sản
Việt Nam (CSVN) vào cuối thế kỷ 20.
I.- NHÀ MẠC NHƯỢNG
NĂM ĐỘNG
Mạc Đăng Dung đảo
chánh năm 1527, lật đổ nhà Lê, tự ḿnh
lên làm vua tức Mạc Thái Tổ (trị v́
1627-1530), lập ra nhà Mạc. Nhiều sĩ phu trung
quân bảo thủ vẫn tưởng nhớ nhà
Lê và chống đối nhà Mạc. Tại Sầm
Châu (Lào), năm 1533, Nguyễn Kim t́m được
người con út của Lê Chiêu Tông là Lê Duy Ninh,
lúc đó được 18 tuổi, lập lên làm
vua tức vua Lê Trang Tông (trị v́ 1533-1548), mở
đầu công cuộc trung hưng nhà Hậu Lê.
Lê Trang Tông đă cử hai phái đoàn sang nhà Minh
cầu viện.
Phái đoàn thứ nhất do Trịnh
Duy Liểu cùng hơn mười người đi
bằng đường biển từ Chiêm Thành,
theo thuyền buôn Quảng Đông, mất hai năm mới
tới kinh đô Trung Hoa, tŕnh bầy việc Mạc
Đăng Dung lật đổ nhà Lê năm 1527ạ,
và xin nhà Minh dấy quân hỏi tội họ Mạc.(
1)
Phái đoàn thứ nh́ do
Trịnh Viên cầm đầu sang Minh năm 1536 (bính
thân). Viên đi đường núi, gặp quan chức
nhà Minh ở Vân
Nam
, tŕnh bày t́nh h́nh trong nước và thỉnh cầu
nhà Minh xuất quân đánh nhà Mạc.
Trong lúc việc bang giao giữa nhà Mạc
(Đại Việt) và nhà Minh (Trung Hoa) diễn ra b́nh
thường, th́ hai phái đoàn cầu viện của
nhà Hậu Lê trung hưng kêu gọi nhà Minh đem
quân đánh nhà Mạc. Hành động của hai
phái đoàn nầy cho nhà Minh thấy rơ sự chia
rẽ trong nội bộ Đại Việt, là cơ hội
thuận tiện để họ mở cuộc xâm
lăng. V́ vậy, sau khi nghe tường tŕnh, triều
đ́nh nhà Minh kết luận “Đăng Dung có mười
tội to, không thể không đánh được.”(
2)
Như thế, nguyên nhân
chính việc nhà Minh đem quân đến biên giới
đe dọa nước ta vào giữa thế kỷ
16 là do sự thỉnh cầu của những kẻ
đại diện nhà Lê Trung hưng. V́ lời cầu
cứu của vua Lê, triều đ́nh nhà Minh mới
bàn tính chuyện sang xâm lăng nước ta. Lúc
đó, vua Hiến Tông Mạc Phúc Hải đang trị
v́ (từ 1540 đến 1546). Phụ vương của
Hiến Tông là Thái Tông Mạc Đăng Doanh (trị
v́ 1530-1540) đă từ trần. Nội tổ của
Hiến Tông là Thái Tổ Mạc Đăng Dung (trị
v́ 1527-1530) làm cố vấn cho nhà vua trong chức vụ
Thượng hoàng.
Thượng hoàng Mạc Đăng Dung
sai Nguyễn Cảnh sang Trung Hoa kiếm cách ḍ la tin
tức. Nguyễn Cảnh bị người Trung Hoa
bắt cùng với tang vật là bài “Đại cáo”
do nhà Mạc soạn.( 3)
Dựa vào lư do nầy, vua Minh quyết định
sai Cừu Loan làm tổng đốc, Mao Bá Ôn làm
tán lư quân vụ, sửa soạn binh mă sang đánh
nước ta năm 1537 (đinh dậu). Được
tin trên, Mạc Thái Tông cử Nguyễn Văn Thái
sang nhà Minh đưa biểu trần t́nh năm 1538
(mậu tuất).( 4)
Vua Minh không chấp nhận, và thúc Cừu Loan cùng
Mao Bá Ôn hăy mau tiến binh.
Cuối năm canh tư (1540),
Cừu Loan và Mao Bá Ôn đem quân đến ải
Nam Quan, là đoạn đường đèo hiểm
trở giữa hai nước Việt Hoa tại Lạng
Sơn. Để gây chia rẽ trong nội bộ Đại
Việt, tướng Minh truyền hịch sang nước
ta nói rằng chỉ đánh dẹp cha con Mạc Đăng
Dung, buộc họ Mạc phải đến cửa
ải nạp sổ sách về đất đai, dân
số, th́ mới khỏi bị giết.
Thượng
hoàng Mạc Đăng Dung đến ải Nam Quan
thương thuyết vào tháng 11 năm canh tư (1540).
Ở thế yếu, ông đành cắt nhượng
cho Trung Hoa năm động biên giới là Ty Phù,
Kim Lặc, Cổ Sâm, Liễu Cát, La Phù, thuộc
châu Vĩnh An ở Yên Quảng (Quảng Yên), để
lệ thuộc vào Khâm Châu nhà Minh.( 5)
Sau
cuộc gặp gỡ với Mạc Đăng Dung, Mao
Bá Ôn phúc tŕnh lên triều đ́nh nhà Minh, đại
ư gồm các điểm: Mạc Đăng Dung chịu
quy thuận; nhà Minh sẽ ban phẩm trật mới
cho cháu của Mạc Đăng Dung là Mạc Phúc Hải
theo lối nhà Hán, nhà Đường trước kia
đă làm, và buộc họ Mạc triều cống
đầy đủ; lư lịch của Lê Ninh (tức
Lê Trang Tông đang được Nguyễn Kim tôn
pḥ ở Thanh Hoa) không rơ ràng, cần phải thẩm
xét thêm.( 6)
Dựa
vào bản phúc tŕnh của Mao Bá Ôn, tháng 10 năm
đó triều đ́nh nhà Minh quyết định
phong họ Mạc làm An Nam đô thống sứ ty
đô thống sứ, cấp ấn bạc và cho thế
tập (cha truyền con nối). Toàn quốc chia
thành 13 lộ như cũ, mỗi lộ đặt
tuyên phủ ty, đứng đầu là tuyên phủ
đồng tri, phó sứ, thiêm sự.(
6)
Đây
là quyết định về phía nhà Minh (Trung Hoa),
thay đổi danh xưng khá nặng nề trên phương
diện bang giao, nhưng trên thực tế, việc
nầy không ảnh hưởng ǵ đến nền
tự trị và độc lập của nước
ta. Nhà Minh không gởi người qua Đại Việt
để cai trị hoặc giám sát việc cai trị
của nhà Mạc, như nhà Nguyên đă làm đối
với nhà Trần vào thế kỷ 13.(
7)
Các
bộ sử trước đây đều viết
rằng Thái Tổ Mạc Đăng Dung đă lên
ải Nam Quan, tự “trói ḿnh” đầu hàng giặc
Minh. Việc gọi là “trói ḿnh” là nguyên văn
trong phúc tŕnh của Mao Bá Ôn gởi lên triều
đ́nh nhà Minh (Trung Hoa) ngày 20 tháng 10 năm tân sửu
(1541), được sách Đại Việt sử kư
Toàn thư (phần do Phạm Công Trứ chép thêm
cho đến năm 1656) ghi lại rằng: “Mạc
Đăng Dung tự trói ḿnh đầu hàng ở cửa
ải, xin kính theo chính sóc, xóa bỏ tiếm hiệu,
trả lại đất bốn động đă
chiếm, xin nội thuộc xưng thần, xin hàng
năm ban lịch Đại Thống và bù đủ lễ
vật tiến cống hàng năm, cúi ḿnh cung kính
thuận phục...” (8) Lời lẽ của Mao
Bá Ôn chỉ là những lời cường điệu
tự cao tự đại theo cách viết văn
trong các biểu tấu thời xưa. Trong khi
đó, sự thật diễn tiến tại hội
nghị Nam Quan tháng 11 năm canh tư (1540) giữa Mạc
Đăng Dung và Mao Bá Ôn như thế nào th́ không
sách nào viết đến.
Những lời cường điệu
của Mao Bá Ôn hầu như là công thức văn
chương cổ điển của kẻ chiến
thắng ngày trước, mà thỉnh thoảng có
thể gặp thấy trong các “truyện Tàu”. Những
lời nầy không khác ǵ những lời của
Nguyễn Trăi viết về quân Minh trong bài “B́nh
Ngô đại cáo” vào năm 1428 sau khi nghĩa quân
Lam Sơn chiến thắng quân Minh: “...Đến nổi
đứa trẻ con như Tuyên Đức [chỉ vua
Minh] nhàm vơ không thôi; lại sai đồ dút dát Thạnh,
Thăng đem dầu chửa cháy... Thôi Tụ phải
quỳ mà xin lỗi; Hoàng Phúc tự trói để
ra hàng ... Bắt tướng giặc mang về, nó
đă vẫy đuôi phục tội; thể ḷng trời
bất sát, ta cũng mở đường hiếu
sinh... Vương Thông, Mă Anh phát cho vài ngh́n cổ
ngựa, về đến Tàu c̣n đổ bồ hôi...”(
9)
Cần chú ư là Lê Lợi
đă ba lần làm biểu xin Minh Tuyên Tông (mà Nguyễn
Trăi gọi là “đứa trẻ con”) phong
vương, nhưng “đứa trẻ con” không
chấp thuận. Nguyễn Trăi c̣n cho rằng Mộc
Thạnh, Liễu Thăng là “đồ dút dát”,
các tướng Minh là “Thôi Tụ phải quỳ
mà xin lỗi; Hoàng Phúc tự trói để ra hàng”,
và “Bắt tướng giặc mang về, nó đă
vẫy đuôi phục tội”. H́nh ảnh “vẫy
đuôi phục tội” hạ thấp giá trị
các tướng nhà Minh ngang hàng cầm thú. H́nh
ảnh vua quan Trung Hoa qua lời Nguyễn Trăi c̣n tệ
hại hơn h́nh ảnh Mạc Đăng Dung qua lời
Mao Bá Ôn
Trong
khi phía Trung Hoa không khi nào chú ư đến lời của
Nguyễn Trăi, th́ các các bộ chính sử của
các triều đại nhà Lê trung hưng khai thác lời
của Mao Bá Ôn để kết án Mạc Đăng
Dung, chẳng qua v́ Mạc Đăng Dung lật đổ
nhà Lê. Các sử quan nhà Nguyễn theo thuyết
chính thống, chống lại việc Mạc Đăng
Dung cướp ngôi, nên cũng nên cũng theo đó
mà kết án.
Trong
biến cố nầy, vấn đề quan trọng
là Mạc Đăng Dung đă cắt năm động
(sóc hay làng) giao cho Trung Hoa để nhà Minh lui quân.
Những động nầy của các bộ tộc
địa phương ít người, nằm giữa
Trung Hoa và Đại Việt, thường tự trị,
chưa có ư thức quốc gia đầy đủ,
nên họ không phụ thuộc vào nước nào
nhất định; bên nào mạnh th́ họ theo
để khỏi bị đánh. Về phía Trung
Hoa, nhà Minh cho rằng năm động đó là của
họ nên họ đ̣i lại.
Lúc
đó, nhà Lê đă trung hưng ở miền nam từ
1533, và cử hai phái đoàn sang cầu viện nhà
Minh. Mạc Đăng Dung biết rằng nội bộ
phân hóa, lực lượng nhà Mạc khó có thể
chống cự được nhà Minh, đất
nước có thể sẽ rơi vào tay nhà Minh lần
nữa, nên đành phải chịu nhượng
năm động miền biên giới để
đổi lấy hoà b́nh. Hành động nầy của
thượng hoàng Mạc Thái Tổ bị nhiều
người viết sử lên án gắt gao, nhưng
chẳng có ai lên án những kẻ đă sang Trung
Hoa cầu viện và thỉnh cầu nhà Minh xuất
quân đánh nhà Mạc, nghĩa là đánh nước
ta, mới xảy ra chuyện nhà Minh sách nhiễu cuối
năm 1440.
Ở đây tưởng
cũng nên thêm một sự kiện đặc biệt
về họ Mạc. Nhà Mạc thất bại năm
1593, con cháu ly tán khắp nơi. Một trong những
vị tướng cuối cùng của họ Mạc
là Mạc Ngọc Liễn từ trần ngày mồng
2 tháng 7 năm giáp ngọ (1594). Trước khi qua
đời v́ bệnh, Mạc Ngọc Liễn để
thư lại dặn vua Mạc Kính Cung: ”...
Họ
Lê lại phục hưng, đó là số trời.
Dân ta là dân vô tội, mà để phải mắc
nạn binh đao, sao lại nỡ thế! Bọn
ta nên tránh ra ở nước khác, chứa nuôi uy sức,
chịu khuất đợi thời, xem khi nào mệnh
trời trở lại mới có thể làm
được... Lại
chớ nên mời người Minh vào trong nước
ta mà để dân ta phải lầm than đau khổ,
đó cũng là tội lớn không có ǵ nặng bằng.”(
10)
Quả thật, phản ứng của nhà Mạc
khác với những triều đại một thời
huy hoàng là nhà Trần, nhà Lê và nhà Nguyễn. Nhà
Mạc chấp nhận mất ngôi mà không nhờ
người nước ngoài đem binh về đánh
nước ta để phục nghiệp.
II.-
ĐẢNG CSVN NHƯỢNG ẢI
NAM
QUAN VÀ 10,000 KM2 MẶT BIỂN
Việc
nhà cầm quyền Việt
Nam
chính thức nhượng đất cho Trung Hoa tái
diễn vào cuối thế kỷ 20. Sau khi chiếm
Việt Nam Cộng Ḥa năm 1975, đảng Lao Động
Việt Nam đổi tên thành đảng Cộng Sản
Việt Nam (CSVN) và đổi luôn quốc hiệu
Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa (VNDCCH) thành Cộng
Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (CHXHCNVN). Điều
4 chương 1 Hiến pháp năm 1992 của CHXHCNVN
xác nhận vai tṛ lănh đạo tối cao của
đảng CSVN.( 11)
Về
ngoại giao, CHXHCNVN không c̣n theo chính sách ngoại
giao thăng bằng giữa Liên Xô và Cộng Ḥa
Nhân Dân Trung Hoa (CHNDTH), như VNDCCH trong thời gian
chiến tranh, mà ngă hẳn về phía Liên Xô. Ngày
27-6-1978, tại Bucharest, thủ đô Romania, CHXHCNVN
gia nhập khối COMECON.( 12)
Trong cuộc họp của khối nầy tại thủ
đô Mông Cổ là Oulan Bator từ 27-9 đến
1-10-1978, các nước trong khối COMECON hứa hẹn
sẽ giúp CHXHCNVN thực hiện những kế hoạch
kinh tế và kỹ nghệ mà CHNDTH bỏ dở.(
13)
Ngày 3-11-1978, Lê Duẩn (1907-1986, bí thư thứ nhất
đảng Lao Động từ 1960 đến 1975, tổng
bí thư đảng CS từ 1976-1986) sang Liên Xô và
kư với Leonid Brezhnev (1906-1982, bí thư thứ nhất
đảng CSLX 1964-1966, tổng bí thư 1966-1982) ,
Hiệp ước Hai mươi lăm năm Hỗ
tương và Pḥng thủ giữa hai nước.
Dựa
vào hậu thuẫn của Liên Xô, CSVN xua quân xâm lăng
Cambodia
, chiếm thủ đô
Phnom Penh
ngày 7-1-1979. Nhà cầm quyền
Cambodia
lúc đó do đảng CSTH đỡ đầu. Viện
cớ Việt
Nam
xâm lăng
Cambodia
, CHNDTH quyết định trả đũa và “dạy”
cho Việt
Nam
một bài học. Bài học nầy không phải
thuần túy v́ vấn đề
Cambodia
. Bài học nầy c̣n liên hệ đến ba việc:
1) Thứ nhất,
Cambodia
là cửa ngơ để CHNDTH tiến xuống Đông
Nam Á. Khi CHXHCNVN xâm chiếm
Cambodia
, tức đă chận đứng con đường
bành trướng của CHNDTH xuống vùng vịnh
Thái Lan. 2) Thứ nh́, khi bỏ CHNDTH, chạy theo
Liên Xô và kư kết hiệp ước 1978, lănh
đạo đảng CSVN đă mặc nhiên bỏ
luôn những cam kết ngầm với CSTH trong lúc
nhận những viện trợ to lớn của
Trung Hoa để tiến hành hai cuộc chiến
1946-1954 và 1954-1975, mà con số nầy lên đến
20 tỷ Mỹ kim.( 14)
Thứ ba, CHNDTH muốn chận đứng tham vọng
quá lớn của CSVN sau khi CSVN chiếm được
toàn cơi Việt Nam năm 1975.
Ngày 17-2-1979, CHNDTH
đưa trên 200,000 quân tấn công CHXHCNVN ở
sáu tỉnh biên giới. Có nơi quân CHNDTH tiến
sâu vào nội địa Việt
Nam
40 cây số. Sau khi phá nát vùng nầy, quân Trung Hoa
rút về ngày 5-3-1979. Điều đáng nói là trong
khi đánh nhau, quân CHNDTH đă phá hủy những
cột mốc biên giới có từ thời Pháp thuộc,
rồi dựng lại những cột mốc biên
giới mới. Trong khi dựng lại, quân CSTH
đă dời nhiều cột mốc biên giới
sâu vào lănh thổ Việt
Nam
.
T́nh
h́nh thế giới xoay chuyển mạnh vào cuối
thập niên 80, đầu thập niên 90. Chế
độ cộng sản tan ră vào các năm 1989 và
1990 ở các nước Đông Âu như Ba Lan (Poland),
Hung Gia Lợi (Hungary), Bảo Gia Lợi (Bulgaria), Tiệp
Khắc (Czechoslovakia), Đông Đức (East Germany), Nam Tư
(Yugoslavia). Sau đó, chế độ cộng sản
Liên Xô (U. S. S. R.), hậu thuẫn vững vàng của
CHXHCNVN, cũng sụp đổ vào năm 1991.
Lúc
đó, các nhà lănh đạo đảng CSVN mất
hậu thuẫn của Liên Xô, phải thay đổi
chính sách ngoại giao. Một mặt CHXHCNVN cầu
thân trở lại với CHNDTH và mặt khác kiếm
cách giao hảo với Hoa Kỳ. Tổng bí thư
đảng CSVN là Nguyễn Văn Linh (giữ chức
từ 1986-1991), cùng các ông Phạm Văn Đồng
(1906-2000), Đỗ Mười, bí mật sang CHNDTH thương
thuyết vào tháng 9-1990. Sau đó ông Đỗ Mười
(giữ chức từ 1991-1998), mới lên thay ông
Nguyễn Văn Linh làm tổng bí thư, cùng ông
Vơ Văn Kiệt, thủ tướng CSVN, sang Bắc
Kinh ngày 5-11-1991 chính thức tái lập bang giao giữa
hai nước. “Bài học” mà Đặng Tiểu
B́nh đă “dạy” cho CSVN năm 1979 đến
nay mới hiệu ứng.
Nhân
cơ hội đảng CSVN lúng túng, CHNDTH gây sức
ép càng ngày càng lớn đối với CHXHCNVN.
Ở thế bí, ban lănh đạo của đảng
CSVN đành phải thuận nhượng đất
và biển theo sự áp đặt của CSTH. Kết
quả là hai hiệp ước về biên giới
ra đời trong ṿng một năm.
Ngày
30-12-1999, tại Hà Nội, bộ trưởng Ngoại
giao CHXHCNVN là Nguyễn Mạnh Cầm và bộ trưởng
Ngoại giao CHNDTH là Đường Gia Truyền (Tang
Jianxuan) cùng kư Hiệp ước về biên giới
trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc. Hiệp
ước nầy được quốc hội Bắc
Kinh thông qua ngày 29-4-2000 và quốc hội Hà Nội
thông qua 9-6-2000.
Ngày
25-12-2000, tại Bắc Kinh, đại diện hai
nước Việt Nam và Trung Hoa đă kư Hiệp
ước phân định lănh hải, phân chia quyền
lợi trên vịnh Bắc Việt, dưới sự
chứng kiến của chủ tịch CHXHCNVN là Trần
Đức Lương và chủ tịch CHNDTH là Giang
Trạch Dân (Jiang Zemin).
Vịnh
Bắc Việt rộng 123,700 km2. So với cách phân
chia lănh hải ngày 26-6-1887 thời Pháp thuộc (Việt
Nam được 62%, Trung Hoa được 38%), cách
phân chia lănh hải ngày 25-12-2000 (Việt Nam
được 53,23%, Trung Hoa được 46,77%)
đă làm cho Việt Nam mất trên 8% diện tích vịnh
Bắc Việt, tương đương với
khoảng trên 10,000 km2.
Điểm đặc biệt
là các nhà lănh đạo đảng CSVN đă giấu
kỹ không cho dân chúng biết nội dung hai hiệp
ước trên đây trước khi kư và trong khi
kư. Một thời gian khá lâu sau khi kư, bị dư
luận bàn tán phanh phui, nhà cầm quyền Hà Nội
mới công bố hai bản hiệp ước mà cũng
không tiết lộ bản đồ để cho dân
chúng theo dơi, so sánh.
III.- SO SÁNH HAI VỤ NHƯỢNG
ĐẤT CHO TRUNG HOA
Nhà Mạc vào thế kỷ
16 cũng như nhà cầm quyền cộng sản
Hà Nội vào cuối thế kỷ 20, đă hạ
bút kư kết việc nhượng đất cho
Trung Hoa. Dầu việc làm nầy hoàn toàn sai trái,
nhưng cả hai việc nhượng đất
đều do những kẻ đang cầm quyền
thực hiện, nên dân tộc Việt Nam phải hứng
chịu thiệt tḥi. Hai hành động nầy có
những điểm giống nhau, nhưng cũng có
những điểm khác nhau.
1. NHỮNG ĐIỂM GIỐNG
NHAU
a) Cả hai nhà cầm quyền đều
cắt đất của tổ tiên để
nhượng cho Trung Hoa. Việc nầy bị cấm
ngặt theo điều 74 của bộ Quốc triều
h́nh luật đă được ban hành từ thời
vua Lê Thánh Tông, vào thế kỷ 15.( 15)
b) Cả hai đều tự
quyền cắt đất mà không hỏi ư dân.
Vào thế kỷ 16, khi thương thuyết với
Mao Bá Ôn để quân Minh rút lui, Mạc Đăng
Dung đă tự ư cắt năm động thuộc
châu Vĩnh An ở Yên Quảng để nhượng
cho Trung Hoa. Vào cuối thế kỷ 20, nhà cầm
quyền Hà Nội cũng đă tự ư cắt
đất và mặt biển để nhượng
cho Trung Hoa, không tham khảo ư kiến bất cứ
ai. Nói cách khác, cả hai chế độ quân chủ
và cộng sản đều tập trung quyền lực
cao nhất vào trong tay một người (vua trong chế
độ quân chủ) hay một nhóm người
(ban lănh đạo đảng CSVN).
c)
Những nhà lănh đạo Trung Hoa, dầu là Trung
Hoa quân chu,Ư hay CHNDTH, đều nuôi tham vọng
bành trướng đất đai, sẵn sàng xâm
chiếm Việt Nam.
2. NHỮNG ĐIỂM KHÁC
NHAU
a) Tuy tập trung quyền lực
cao nhất vào trong tay một người, hay một
nhóm người, hai chế độ chính trị bắt
nguồn từ hai nền văn hóa khác nhau. Quân chủ
là sản phẩm của nền văn hóa Nho giáo.
Chế độ CSVN là sản phẩm của chủ
nghĩa Mác-xít. Một trong những điểm khác
nhau căn bản giữa hai nền văn hóa nầy
là Nho giáo tôn trọng đạo “nhân”, xem đạo
“nhân” là đạo lớn nhất trong ngũ
thường (nhân, nghĩa, lễ, trí, tín). Trái lại,
chủ nghĩa Mác-xít chủ trương tranh đấu
giai cấp, làm tiêu diệt hẳn nhân tính nơi
con người (sẽ tŕnh bày phía dưới).
b) Về mặt pháp lư, dưới
thời quân chủ chuyên chế, vua là con trời
(thiên tử), thay trời hành đạo, làm chủ
đất nước, đất nước là của
vua. Vua độc tôn quyền lực cả hành
pháp, lập pháp, lẫn tư pháp. Nói cách khác vua
là luật pháp, nên không có luật pháp nào chế
tài vua. Vua có quyền tự ư quyết định
mọi việc quân quốc trọng sự, thương
lượng và kư kết hiệp ước.
Ngược lại, thời
đại ngày nay là thời đại dân chủ.
Trên lư thuyết chế độ cộng sản có
hiến pháp, có quốc hội. Chế độ nầy
thường nói đến ư niệm “nhân dân làm
chủ”, hay “làm chủ tập thể”. Từ
ngữ “nhân dân” lại bàn bạc trong ngôn ngữ
hành chánh của chế độ nầy, như “uỷ
ban nhân dân”, “quân đội nhân dân”, “công an
nhân dân”. Thế mà việc kư kết hiệp
ước nhượng đất là một sự
kiện trọng đại, nhà cầm quyền Hà
Nội không tham khảo ư kiến của nhân dân như
trưng cầu dân ư, hay tham khảo ư kiến của
quốc hội. Đây là một việc làm hoàn
toàn vi phạm pháp luật.
c)
Hoàn cảnh chính trị hai bên khác nhau. Nước
Việt dưới thời nhà Mạc chia rẽ,
v́ nhà Mạc đảo chánh năm 1527, lật
đổ nhà Lê, nên nhiều người vẫn c̣n
hoài Lê. Nguyễn Kim lại trung hưng nhà Lê ở
trong nam năm 1533. Trong nội bộ nhà Mạc, năm
1530, Thái Tổ Mạc Đăng Dung nhường ngôi
cho con là Thái Tông Mạc Đăng Doanh, lên làm thượng
hoàng. Thái Tông lại từ trần năm 1540, con là
Hiến Tông Mạc Phúc Hải mới lên ngôi.
Chính trong cùng năm nầy (1540), Mao Bá Ôn đem quân
tới Nam Quan, đe dọa biên thùy. Nhà Mạc
lúng túng v́ vua mới lên ngôi, đành phải chấp
nhận nhượng đất cầu ḥa ở phương
bắc, để lo đối phó với nhà Lê
ở phương nam.
Trong
khi đó, vào cuối thế kỷ 20, CSVN là một
đảng chính trị rất kỷ luật, cai trị
chuyên chế, nắm trọn quyền lănh đạo
đất nước, không có đối lập. Tại
sao CSVN không vận dụng tổng lực dân tộc
chống lại bắc phương? Tại sao CSVN dễ
dàng đột qụy, kư liền hai hiệp ước
nhượng đất và nhượng biển,
trong khi việc thương lượỳng nầy
có thể kéo dài hàng trăm năm cũng chưa
giải quyết xong được? Bằng chứng
là vấn đề Hoàng Sa và Trường Sa ngày
nay, cứ giằng co giữa các nước trong nhiều
năm rồi mà chưa có một kết luận
rơ rệt.
d)
Lư do cắt đất cũng hoàn toàn khác nhau. V́
đại diện của nhà Lê trung hưng hai lần
qua triều đ́nh Trung Hoa xin nhà Minh đem quân
đánh nhà Mạc, nên nhà Minh mới quyết định
đe dọa nước ta. Thái Tổ Mạc Đăng
Dung ở thế chống đỡ tự vệ, thấy
sức ḿnh yếu kém, nếu chống lại nhà
Minh th́ nước Việt sẽ bị thêm một
lần Minh thuộc, nên đành phải tự ư nhượng
năm động ở Yên Quảng. Nói cho cùng, việc
làm nầy tuy là hạ sách, nhưng chẳng những
cứu nguy nhà Mạc, mà c̣n cứu nguy đất
nước khỏi họa ngoại xâm.
Ngược
lại, vào cuối thế kỷ 20, rất nhiều
người chống đảng CSVN đă ra đi
sinh sống ở hải ngoại, kể cả qua
Trung Hoa định cư, nhưng chẳng có một
người Việt Nam nào dại dột nhờ
CHNDTH giúp đỡ để đánh lại chế
độ trong nước. Ngày nay, trong thế bang
giao quốc tế khá chặt chẽ, việc nước
nầy xâm lăng nước khác không thể dễ
dàng thực hiện. Hơn nữa dân chúng Việt
Nam
không thể dễ dàng bị ngoại bang khuất
phục. Vậy tại sao CSVN lại dễ dàng cắt
đất nhượng cho CHNDTH? Đây không phải
v́ sự cứu nguy đất nước như nhà
Mạc đă làm. Đây phải chăng là để
cứu nguy đảng CSVN và cái giá phải trả
về món nợ 20 tỷ Mỹ kim chiến phí trong
thời gian từ 1950 đến 1978 mà CSVN đă
thiếu của CHNDTH?( 16)
Tự vay súng ống để gây chiến tranh, giết
hại đồng bào, rồi dùng tài sản chung của
đồng bào do tổ tiên để lại, để
trả nợ riêng th́ thật chẳng hợp lẽ
chút nào.
đ)
Diện tích đất đai đă bị nhượng
dưới thời nhà Mạc chỉ có năm
động (tức năm buôn, sóc hay làng) của
các bộ tộc địa phương ít người
tại châu Vĩnh An, thuộc Yên Quảng (Quảng
Yên ngày nay). Năm động nầy không có vai
tṛ ǵ đặc biệt trong lịch sử,
cũng không có tài nguyên thiên nhiên quan trọng.
Trong
khi đó, diện tích đất đai do đảng
CSVN nhượng cho Trung Hoa không biết được,
v́ không có bản đồ biên giới để
so sánh. Tuy nhiên, chắc chắn số đất
đă mất phải rộng hơn năm động
thời nhà Mạc. Trong số đất đă mất
nầy, có cả vùng đèo Nam Quan, tức là đèo
Pha Lũy. Ngọn đèo nầy là tiền đồn
ngăn chận các cuộc xâm lăng của bắc
phương, vừa có giá trị quốc pḥng, vừa
có giá trị lịch sử v́ tổ tiên chúng ta
đă đổ bao nhiêu xương máu để bảo
vệ, có tính cách thiêng liêng trong tâm thức người
Việt. Ngoài ra, đảng CSVN c̣n nhượng cho
Trung Hoa 8% diện tích thềm lục địa vịnh
Bắc Việt, tương đương khoảng
10,000 km2 mặt biển. Việc nầy chẳng những
gây thiệt tḥi về mặt giao thông, quốc
pḥng, ngư nghiệp, mà c̣n làm mất rất nhiều
tài nguyên dưới ḷng đất. Vừa qua,
trong tháng 10-2004, báo chí loan tin một mỏ dầu
mới được khám phá ở vùng biển
cách Hải Pḥng khoảng 75 cây số. Không biết
mỏ dầu nầy có kéo dài đến vùng biển
đă mất hay không?
e)
Khả năng đ̣i lại đất lại càng
khác nhau. Thời trước chưa có công pháp quốc
tế. Ư niệm về biên giới với những
đường ranh cố định chưa rơ
ràng như ngày nay. Nhà Mạc nhượng năm
động của các bộ tộc ít người
trong một châu ở miền núi Yên Quảng. Những
bộ tộc nầy không theo Trung Hoa, cũng không
theo Đại Việt. Họ chỉ dừng lại
ở ư niệm bộ tộc, chứ chưa lên tới
ư niệm quốc gia. Nước nào mạnh th́ họ
triều cống, đóng thuế. Do đó, khả
năng đ̣i lại đất được bỏ
ngơ, khi nào nước ta mạnh th́ có thể kéo họ
về với nước ta.
Ngược
lại ngày nay, với công pháp quốc tế, một
khi đă kư kết văn bản nhượng đất,
th́ rất khó lấy lại. Muốn lấy lại,
phải thương thuyết lại, kư lại hiệp
ước khác, mới có thể hồi hương
những đất đă mất.
g)
Tính chất bang giao giữa hai nước Việt
Hoa trong hai thời đại không giống nhau. Ngày
trước, Trung Hoa theo chế độ quân chủ.
Các vua Trung Hoa luôn luôn nuôi mộng bá quyền, chờ
sẵn cơ hội để xâm lăng nước
ta. Ngày nay Trung Hoa theo chế độ Cộng ḥa
Nhân dân, là nước “xă hội chủ nghĩa
anh em” với CHXHCNVN. T́nh anh em nầy cũng nguy hiểm
không khác ǵ quân chủ phong kiến ngày xưa.
IV.-
KINH NGHIỆM LỊCH SỬ
1.
PHẢI LUÔN LUÔN ĐỀ PH̉NG BẮC PHƯƠNG
Kinh
nghiệm lịch sử lớn nhất rút ra từ
hai vụ nhượng đất là phải luôn
luôn đề pḥng bắc phương, dù bắc
phương theo bất cứ chế độ chính
trị nào. Mỗi thời đại, bắc
phương có mỗi cách xâm lăng khác nhau. Dưới
thời đại quân chủ trước kia, Trung
Hoa đă nhiều lần sử dụng vơ lực,
nhưng vô hiệu. Ngày nay CHNDTH cũng từng dùng
vơ lực để xâm lăng Việt
Nam
năm 1979, và cũng từng thất bại.(
17)
Không
sử dụng được sức mạnh quân sự,
CHNDTH quay qua dùng biện pháp chính trị để
áp lực buộc CHXHCNVN kư kết các hiệp ước
nhượng đất nhượng biển. Biện
pháp chính trị tuy không có gươm đao súng
ống, nhưng hết sức lợi hại và nguy
hiểm.
Xưa
kia, Đức Trần Hưng Đạo đă từng
tiên liệu việc nầy. Trước khi từ
trần năm 1300, Đức Thánh Trần đă nói với
vua Trần Anh Tông: “Nếu nó [quân Mông Cổ]
dùng cách ăn dần dà, như tằm ăn lá,
thong thả mà không ham của dân, không cần lấy
mau việc, thế ấy mới khó trị, th́ ta
nên kén dùng người giỏi, liệu xem quyền
biến, ví như đánh cờ, phải tuỳ cơ
mà ứng biến, dùng binh phải đồng ḷng
như cha con một nhà, th́ mới có thể đánh
được. Cách ấy, cốt phải tự
lúc b́nh th́ khoan sức cho dân, để làm kế
sâu rễ bền gốc, đó là cái thuật giữ
nước hay hơn cả.”(
18)
2.
PHẢI GẠT BỎ CHỦ NGHĨA MÁC XÍT
Kinh
nghiệm lịch sử thứ nh́ là muốn thực
hiện kế sách “tự lúc b́nh th́ khoan sức
cho dân, để làm kế sâu rễ bền gốc”,
nói theo ngôn ngữ ngày nay, là làm cho dân giàu nước
mạnh, xây dựng xă hội ổn định
để chống lại bắc phương, th́
điều kiện tiên quyết đầu tiên là
phải gạt bỏ chủ nghĩa Mác xít. Chủ
nghĩa nầy dựa trên căn bản đấu
tranh giai cấp, chẳng những đă đánh
đổ toàn bộ những giá trị dân tộc
truyền thống, mà c̣n tiêu hủy nhân tính nơi
con người, v́ đấu tranh giai cấp là
đấu tranh sinh tồn, một mất một c̣n,
tận diệt tất cả những giai cấp
khác để độc quyền xă hội. Từ
đó, tất cả những đức tính tốt
đẹp nơi con người hoàn toàn bị
tiêu diệt, từ tính tương trợ giữa
người với người, ḷng tự trọng
công dân, đến tự ái quốc gia, hào khí dân
tộc. Khi không c̣n hào khí dân tộc, th́ người
ta dễ dàng dửng dưng trước việc
đất đai bị nhượng cho ngoại
bang mà không có phản ứng ǵ cả.
Trong
xă hội cộng sản, v́ nhà nước chủ
trương đấu tranh giai cấp nên con người
luôn luôn đối kháng nhau, xâu xé nhau, giết hại
lẫn nhau khiến cho xă hội trở nên bất
ổn. Con người mất ḷng tin nơi con
người, cũng như mất ḷng tin vào chế
độ cai trị, th́ không thể có chuyện
“sâu rễ bền gốc” được. Trong cuộc
Cải cách ruộng đất ở Bắc Việt
kéo dài nhiều năm trong thập niên 50 vừa
qua, có nhiều trường hợp con cái đấu
tố giết hại cha mẹ, anh em vợ chồng
đấu tố giết hại lẫn nhau. Tất
cả chỉ để nhắm mục đích sinh
tồn. Người ta có thể giết hại
cha mẹ để sinh tồn, th́ người ta
cũng có thể xẻ đất của tổ tiên
nhượng cho ngoại bang để sinh tồn. Do
đó, có thể nói việc nhượng đất
nhượng biển vừa qua của CSVN chính là
di căn biến chứng của việc đấu
tố cha mẹ trong cuộc Cải cách ruộng
đất vào thập niên 50 xuất phát từ chủ
nghĩa Mác-xít.
Ngày
nay, tất cả mọi người Việt Nam
ở trong cũng như ngoài nước đều
đồng ư một điểm: nói chung phong hóa Việt
Nam hiện đang bị suy đồi, xă hội Việt
Nam hiện đang bị băng hoại. Tác nhân
chính của sự suy đồi và băng hoại
nầy, nếu không phải là văn hóa Mác-xít
th́ c̣n ai vào đây nữa?
Cần
chú ư là các chế độ quân chủ ngày trước,
dầu chuyên chế, nhưng không chủ trương
tranh đấu giai cấp, lại luôn luôn đề
cao tính nhân bản, tôn trọng quyền làm người.
Nhờ thế, xă hội không bị phân ră thành những
tế bào nhỏ đối kháng nhau, thù hằn
nhau, mà xă hội giữ được thế liên
kết hài ḥa, thăng bằng và ổn định,
nên khi nguy biến, dân chúng dễ bỏ qua những
khác biệt riêng tư và tập hợp thành tổng
lực của dân tộc để chống ngoại
xâm và bảo vệ tổ quốc.
3.
“XĂ HỘI CHỦ NGHĨA ANH EM” CHỈ LÀ ẢO
TƯỞNG
Kinh
nghiệm lịch sử thứ ba là không có vấn
đề “các nước xă hội chủ nghĩa
anh em”. Ư niệm “xă hội chủ nghĩa anh em”
hoàn toàn là một ảo tưởng. Cũng không
có vấn đề các nước ngoài viện trợ
nước Việt Nam vô vị lợi. Người
ngoại quốc đến Việt Nam là v́ quyền
lợi riêng tư của họ. Đành rằng có một
số người Việt Nam phản quốc,
nhưng dầu sao chỉ có người Việt Nam
mới thực sự yêu tổ quốc Việt Nam.
Nền Đệ nhị Cộng ḥa Việt Nam sụp
đổ là một bài học cay đắng cho chúng
ta về đồng minh Hoa Kỳ. Hai hiệp ước
vào cuối thế kỷ 20 của CHXHCN nhượng
đất và biển cho CHNDTH là một bài học
cay đắng khác của CSVN, mà toàn dân phải chịu
thiệt tḥi. CSVN là một đảng phái chính trị
theo lư thuyết ngoại bang, thành h́nh từ ngoại
bang, tổ chức theo mẫu mă ngoại bang, dựa
vào ngoại bang để tiến lên. Từ đó
mới nhượng đất để trả nợ
cho ngoại bang.
KẾT
LUẬN
Thử
so sánh việc nhà Mạc nhượng năm động
miền núi Quảng Yên, trong hoàn cảnh nội bộ
chia rẽ và trong thế yếu, để mưu cầu
an ninh cho đất nước, với việc
đảng CSVN lănh đạo một đất
nước khoảng 80 triệu dân, tập trung quyền
lực toàn diện và tuyệt đối vào trong
tay đảng, nhưng chỉ v́ quyền lợi
riêng tư, mưu cầu sự sống c̣n cho đảng,
đă nhượng biển, nhượng đất,
và c̣n nhượng luôn cả chứng tích Nam Quan
vang lừng chiến sử dân tộc, th́ bên nào
có tội hơn trước lịch sử?
Bộ
Lịch sử Việt Nam tập 1, Nxb. Khoa học
Xă hội Hà Nội của đảng CSVN ấn hành
năm 1971, “sách biên soạn dưới sự chỉ
đạo trực tiếp của Uỷ ban Khoa học
Xă hội Việt Nam” [nguyên văn ghi ở trang
2], đă nhận xét về nhà Mạc như sau: “Trước
sự đe dọa của nhà Minh, Mạc Đăng
Dung đă đầu hàng và đem dâng một phần
đất của Tổ quốc cho kẻ thù để
mong được rảnh tay đàn áp nhân dân và
đối phó với phe phái đối lập trong
nước. Độc lập dân tộc, toàn vẹn
lănh thổ và thanh danh của đất nước,
đó là những điều thiêng liêng đối
với người Việt Nam tự ngàn xưa, nay
bị xúc phạm v́ sự bất lực và hèn
nhát của tập đoàn thống trị họ Mạc...”
( tr. 291)
Những
lời nhận xét trên đây thật là mạnh mẽ
và đanh thép, nhưng nếu những lời nầy
áp dụng cho giới lănh đạo đảng
CSVN hiện nay, th́ phải chăng sẽ chính xác hơn?
TRẦN
GIA PHỤNG
(Toronto,
Canada)
CHÚ
THÍCH
1.
Đại Việt sử
kư toàn thư, viết tắt Toàn thư, bd. tập
3 của Nxb. Khoa học Xă hội, Hà Nội, 1993,
tr. 119.[ Chú ư:
Ngô Sĩ Liên viết xong bộ Toàn thư năm
1479. Sau đó, Vũ Quỳnh (1452-1516), và Phạm
Công Trứ (1600-1675) chép thêm cho đến năm
1656, vẫn gọi là Đại Việt sử kư toàn
thư.]
2.
Quốc sử quán triều
Nguyễn, Khâm định Việt sử thông giám cương
mục, gọi tắt là Cương mục, bd tập
2, Nxb. Giáo Dục, Hà Nội, 1998, tr. 110.
3.
Điều nầy
được ghi lại theo tài liệu của nhà
Minh (Cương mục, bd tập 2, tr. 110). Có thể
nhà Minh muốn tạo ra một lư do để tiến
quân qua đánh nhà Mạc.
4.
Đại ư tờ biểu
được Cương mục, bd tập 2, tr.
112, tóm tắt như sau: “Tương Dực đế
bị nghịch tặc Trần Cao giết hại,
Đăng Dung cùng người trong nước tôn lập
vua Chiêu Tông. Không bao lâu, Chiêu Tông lại bị gian thần là bọn
Đỗ Ôn Nhuận và Trịnh Tuy dụ dỗ dời
vào Thanh Hoa, Đăng Dung lại tôn lập Cung Đế
làm vua. Liền đó, Đăng Dung lại đón
Chiêu Tông từ Thanh Hoa về. Rồi Chiêu Tông và
Cung Đế đều bị bệnh chết. Họ
Lê không người kế tự. Cung Đế, khi bệnh
kịch, có bàn với quần thần, cho rằng
cha con Đăng Dung có công với nước, bèn vời
vào, trao cho ấn chương để nối coi
việc nước. Đăng Dung bèn được
người nước suy tôn. C̣n
lư do chưa dâng biểu và sai sứ sang cống,
là trước v́ Trần Cung chiếm giữ Lạng
Sơn làm nghẽn đường, sau v́ quan giữ
biên cương đóng cửa ải không tiếp
nhận. Đến như người nhận là
ḍng dơi nhà Lê bây giờ chỉ là con của kẻ
khác, chứ không phải là con của Chiêu Tông.”
Cương mục cho rằng đây là tờ biểu
đầu hàng. Dẫu rằng tờ biểu có
nhiều điều không đúng sự thật v́
đó là thủ thuật chính trị, nhưng lời
lẽ tờ biểu nầy cũng giống như
lời lẽ của Lê Lợi trước kia, chỉ
có tính cách trần t́nh mà thôi.
5.
Động là một
cái làng (buôn hay sóc) nhỏ của người miền
núi, vây quanh bởi các dăy núi, chỉ có vài lối
đi vào rất hiểm trở. Người miền
núi sống trong đó để dễ bảo vệ
an ninh. Năm động trên đây viết theo
sách Cương mục (bd tập 2, tr. 115) v́ Cương
mục đă cẩn án cẩn thận các bộ lịch
sử và địa lư của Đại Việt và
Trung Hoa.
6.
Toàn thư, bd tập
3, tt. 122-123. Hiến
Tông Mạc Phúc Hải được nhà Minh phong
làm An Nam Đô thống sứ ty ngày 15 tháng 12 năm
nhâm dần (qua 1543).( Toàn
thư, bd tập 3, tr. 123.)
7.
Vào thế kỷ 13,
nhà Trần (1226-1400) phải chấp nhận sự
giám trị của nhà Nguyên. Năm 1266, Trần Thánh
Tông (trị v́ 1258-1278) xin vua Mông Cổ giữ Nạp
Thích Đinh làm đại diện dài hạn tại nước
ta (Cương mục, bd. tập 1, tr. 494). Sau đó,
cũng Trần Thánh Tông cử sứ giả sang triều
đ́nh Nguyên năm 1275 (ất hợi) đề
nghị đổi danh xưng quan “Giám trị”
thành “Dẫn tiến sứ”, lấy lẽ rằng
nước ta không phải là nước man di mà cần
giám trị. (Cương mục, bd. tập 1, tt.
502-503.)
8.
Toàn thư, bd tập
3, tt. 122-123.
9.
Bản dịch của
Bùi Kỷ, do Dương Quảng Hàm đăng lại
trong Việt Nam văn học sử trích yếu, Bộ
Quốc Gia Giáo Dục, Sài G̣n, 1960, in lần thứ
bảy, tr. 260. “B́nh Ngô đại cáo” là một thiên anh
hùng ca của dân tộc. Trong cơn say men chiến
thắng, Nguyễn Trăi đă gọi vua Minh Tuyên
Tông (trị v́ 1425-1435) của Trung Hoa lúc đó,
niên hiệu là Tuyên Đức là “đứa trẻ
con”.
10.
Toàn thư, bd tập
3, tr. 189.
11.
Sau đây là nguyên văn
điều nầy: “Đảng cộng sản Việt
Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân
Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi
của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và
của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác-Lênin
và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng
lănh đạo Nhà nước và xă hội. Mọi
tổ chức của đảng hoạt động
trong khuôn khổ hiến pháp và pháp luật.”
12.
COMECON:
Council for Mutual Economic Assistance tức Hội đồng
Tương trợ Kinh tế được thành lập
năm 1949 tại Moscow, gồm Liên Xô và các nước
cộng sản chư hầu. Khối
kinh tế nầy sụp đổ năm 1990 cùng với
sự sụp đổ của các nước cộng
sản Đông Âu.
13.
Bùi Xuân Quang, La
troisième guerre d’Indochine 1975-1999: Sécurité et géopolitique
en Asie du Sud-Est, Nxb. L’Harmattan, Paris, 2000, tr 308.
14.
Jacques Massu, Jean-Julien
Fonde, L’aventure Viêt-Minh, Nxb. Plon, Paris, 1980, tr. 293, phần
chú thích.
15.
Nguyễn Ngọc Huy,
Quốc triều h́nh luật (phiên âm, dịch nghĩa
và chú thích), Việt Publisher Thư Quán, Hoa Kỳ,
1989, tr. 189.
16.
Xin xem chú thích 14.
17.
Cuộc tấn công năm
1979 của CHNDTH thất bại không phải chỉ
v́ sự chống cự của Việt Nam, mà c̣n
v́ phản ứng quốc tế. Bên cạnh hai nước
Việt Nam và Trung Hoa lâm chiến, c̣n có các nước
trong tổ chức Liên Hiệp Quốc, đă đứng
ra can thiệp và yêu cầu Trung Hoa rút quân.
18.
Toàn thư, bd. tập
2, tr. 79. Năm 1300, khi Đức Trần Hưng Đạo
(1226-1300) bệnh nặng, vua Trần Anh Tông (trị
v́ 1293-1314) đến hỏi kế sách chống
quân Mông Cổ, th́ Đức Trần Hưng Đạo
trả lời như trên.